<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tân Hiệp Thơ &#187; PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG</title>
	<atom:link href="http://www.tanhieptho.com/tho-van/phan-tham-khao-cac-tac-gia-va-tac-pham-noi-tieng/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.tanhieptho.com</link>
	<description>Những mùa thơ Tân Hiệp</description>
	<lastBuildDate>Sat, 11 Jun 2011 10:00:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Phạm Duy – những tình khúc của một đời người</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/ph%e1%ba%a1m-duy-%e2%80%93-nhung-tinh-khuc-cua-mot-doi-nguoi/2010/10/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/ph%e1%ba%a1m-duy-%e2%80%93-nhung-tinh-khuc-cua-mot-doi-nguoi/2010/10/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Oct 2010 05:27:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc sĩ]]></category>
		<category><![CDATA[những tình khúc của một đời người]]></category>
		<category><![CDATA[nổi tiếng]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Duy]]></category>
		<category><![CDATA[tình khúc]]></category>
		<category><![CDATA[việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=446</guid>
		<description><![CDATA[Tháng Ba 31, 2010 Bao giờ nghe những ca khúc mới của Phạm Duy, tôi cũng vô cùng xúc động và cảm khoái. Xúc động bởi cái tình hàm chứa trong đó và cảm khoái bởi sự sáng tạo bừng lên từ đó. Lần này khi nghe tập rong ca ”Người tình già trên đầu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="single-date">Tháng Ba 31, 2010</div>
<p><img src="http://pixel.quantserve.com/pixel/p-ab3gTb8xb3dLg.gif" border="0" alt="Quantcast" width="1" height="1" /></p>
<p><em><a href="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/hoiky1.gif"><img title="hoiky1" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/hoiky1.gif?w=264&amp;h=400" alt="" width="264" height="400" /></a>Bao  giờ nghe những ca khúc mới của Phạm Duy, tôi cũng vô cùng xúc động và  cảm khoái. Xúc động bởi cái tình hàm chứa trong đó và cảm khoái bởi sự  sáng tạo bừng lên từ đó. Lần này khi nghe tập rong ca ”Người tình già  trên đầu non”, không những tôi đã xúc động, đã cảm khoái mà còn cảm nhận  được trong sâu thẳm của tâm hồn tôi một ước muốn được chia xẻ với nhạc  sĩ Phạm Duy, chia xẻ niềm mơ ước được bước ra khỏi chính bản ngã của  mình để hòa nhập vào một vũ trụ chưa từng thấy, kể cả trong trí não của  con người — một thế giới chưa biết từ cái đã biết, một thế giới chưa có  từ cái đã có.</em><br />
(Lê Uyên Phương)</p>
<p>Nghe <a href="http://www.phamduy.com/ngaytrove/phamduy100/1-20.php">100 ca khúc Phạm Duy</a>, những tình khúc của một đời người.</p>
<p>Xem Hồi ký Phạm Duy<a href="http://haydanhthoigian.wordpress.com/h%E1%BB%93i-ky-ph%E1%BA%A1m-duy/"> tại đây</a></p>
<p>Tất cả các nhạc phẩm, kể từ bản đầu  tay Cô Hái Mơ, soạn trong năm 1942, cho tới những bản mới soạn gần đây  nhất, đều đã được in ra dưới hình thức bản nhạc rời (music sheet). Đại  đa số được in trong những nhạc tập. Sau đây là danh sách các nhạc tập :</p>
<p><strong>Việt Ngữ</strong></p>
<ol>
<li><strong>NHỮNG ĐIỆU HÁT BÌNH DÂN</strong>, Nhà xuất bản ĐẤT MỚI, Thanh Hoá 1950.</li>
<li><strong>TÌNH CA </strong>(thơ Cung Trầm Tưởng, họa Ngy Cao Uyên, nhạc Phạm Duy), Tự xuất bản, Saigon1969.<br />
<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/cungtramtuong.jpg" alt="" /></li>
<li><strong>MỘT MẸ TRĂM CON, </strong>Bộ Thông Tin xuất bản, Saigon 1962.</li>
<li><strong>Trường Ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN</strong>, Tập San SÁNG DỘI MIỀN NAM xuất bản, Saigon, 1960. Nxb QUẢNG HOÁ, Saigon 1970.</li>
<li><strong>MƯỜI BÀI TÂM CA</strong>, nxb LÁ BỐI, Saigon 1965</li>
<li><strong>NGÀY ĐÓ CHÚNG MÌNH YÊU NHAU</strong>, nxb AN TIÊM, Saigon, 1968. Nxb GÌN VÀNG GIỮ NGỌC, Saigon 1971</li>
<li><strong>NGHÌN TRÙNG XA CÁCH</strong>, nxb AN TIÊM, Saigon 1968.</li>
<li><strong>HÁT VÀO ĐỜI</strong>, nxb AN TIÊM, Saigon, 1969.<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/hatvaodoi.bmp" alt="" /></li>
<li><strong>VÒNG TAY THẾ GIỚI</strong>, nxb QUẢNG HOÁ, Saigon 1969.</li>
<li><strong>GIẾT NGƯỜI TRONG MỘNG</strong>, nxb TRÍ DŨNG, Saigon 1970.</li>
<li><strong>CA KHÚC CHO NGÀY MAI</strong>, nxb QUẢNG HOÁ, Saigon 1970.</li>
<li><strong>CHO NHAU RIÊNG NHAU MỘT ĐỜI</strong>, nxb KHAI PHÓNG, Saigon 1970.</li>
<li><strong>GIỌT LỆ CHO TÌNH TA</strong>, nxb CHÂN MÂY, Saigon 1970.</li>
<li><strong>MƯỜI BẢY TÌNH CA BẤT TỬ</strong>, nxb THƯƠNG YÊU, Saigon 1971.</li>
<li><strong>ÐẠO CA</strong>, nxb VĂN HỌC SỬ, Saigon 1971.</li>
<li><strong>NHI ĐỒNG CA</strong>, CỤC TÂM LÝ CHIẾN xuất bản, Saigon 1971.</li>
<li><strong>KỶ VẬT CHÚNG TA</strong>, nxb GÌN VÀNG GIỮ NGỌC, Saigon 1971.</li>
<li><strong>THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG</strong>, nxb GÌN VÀNG GIỮ NGỌC – Saigon, 1971.</li>
<li><strong>CHIẾN CA MÙA HÈ</strong>, nxb TIÊN RỒNG, Saigon 1972.</li>
<li><strong>CON ĐƯỜNG TÌNH TA ĐI</strong>, nxb GÌN VÀNG GIỮ NGỌC, Saigon 1973.</li>
<li><strong>TUYỂN TẬP NHẠC TIỀN CHIẾN</strong> (trong đó có nhạc Phạm Duy), nxb KẺ SĨ, Saigon 1968.</li>
<li><strong>TUỂN TẬP 20 NĂM NHẠC TÌNH</strong> (trong đó có nhạc Phạm Duy), nxb KHAI PHÓNG, Saigon 1970.</li>
<li><strong>HOÀNG CẦM CA</strong>, HỘI VĂN HOÁ VN TẠI BẮC MỸ, VIRGINIA USA 1984.</li>
<li><strong>THẤM THOÁT MƯỜI NĂM</strong>, HỘI VĂN HOÁ VN TẠI BẮC MỸ, TỦ SÁCH CÀNH NAM và TẠP CHÍ XÁC ĐỊNH xuất bản, USA 1985.</li>
<li><strong>MƯỜI BÀI RONG CA</strong>, PDC PRODUCTIONS, Midway City, USA 1988</li>
<li><strong>MƯỜI BÀI TÂM CA</strong>, PDC PRODUCTIONS, Midway City, USA 1990</li>
<li><strong>BẦY CHIM BỎ XỨ</strong>, nxb CÀNH VÀNG, Westminster, CALIFORNIA USA 1990<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/baychim.bmp" alt="" /></li>
<li><strong>MỘT ĐỜI ĐỂ YÊU</strong> (30 tình khúc), nxb NAM Á, Paris FRANCE 1989</li>
<li><strong>VƯỜN THƠ CÁNH NHẠC</strong> (30 bài thơ phổ nhạc), nxb NAM Á, Paris FRANCE 1989</li>
<li><strong>TÌNH SI (30 tình khúc)</strong>, nxb NAM Á, Paris FRANCE 1992</li>
<li><strong>TÌNH CA QUÊ HƯƠNG</strong> (30 bài ca quê hương),	nxb NAM Á, Paris FRANCE 1992</li>
<li><strong>LỊCH SỬ TRONG TIM</strong> (30 bài ca kháng chiến), nxb NAM Á, Paris FRANCE 1992</li>
<li><strong>HÁT TRÊN ĐƯỜNG VỀ</strong> (Đạo Ca, Rong Ca, Thiền Ca), nxb NAM Á, Paris, FRANCE 1992</li>
<li><strong>NIỀM VUI CÒN ĐÓ</strong> (Bé Ca, Nữ Ca,Bình Ca), nxb HỒNG LĨNH, Westninster, CA USA 1994</li>
<li><strong>TẠ ƠN ĐỜI</strong>, nxb HỒNG LĨNH, Westninster, CA, USA 1994</li>
</ol>
<ol><strong>Có Thêm Ngoại Ngữ</strong>&nbsp;</p>
<li><strong>Trường Ca MẸ VIỆT NAM</strong> (Việt-Anh-Pháp), Phủ Đặc Ủy Chiêu Hồi xuất bản, Saigon 1960. Nxb LÁ BỐI, Saigon 1967</li>
<li><strong>Trường Ca MẸ VIỆT NAM</strong> (Việt-Pháp), nxb NAM Á, Paris FRANCE 1985</li>
<li><strong>DÂN CA – FOLK SONGS </strong>(Việt -Anh), USIS xuất bản, Saigon 1968.</li>
<li><strong>HOAN CA</strong> (Việt – Anh), nxb DU CA, Saigon, 1973.</li>
<li><strong>HÁT TRÊN ĐƯỜNG TỊ NẠN</strong> (Việt-Anh), nxb ĐÔNG PHƯƠNG – Santa Ana, CA USA 1979.</li>
<li><strong>MƯỜI BÀI NGỤC CA</strong> (Việt-Anh) Nguyễn Hữu HiỆu xuất bản, Arlington VIRGINIA USA 1980.<strong>HAI MƯƠI BÀI NGỤC CA</strong>(Việt-Anh), Hội VĂN HOÁ Bắc Mỹ xuất bản, Arlington, VIRGINIA USA 1980.</li>
<li><strong>NGỤC CA</strong> (Việt-Anh-Pháp), QUÊ ME xuất bản, Paris 1982. PDC Productions, Midway City CALIFORNIA USA 1989</li>
<li><strong>DÂN CA-FOLK SONG-CHANT POPULAIRE</strong> (Việt, Anh, Pháp), PDC Musical Productions, Midway City CALIFORNIA USA 1980.</li>
<li><strong>Trường Ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN</strong> (Anh-Việt) PDC Musical Productions, Midway City CALIFORNIA USA 1980</li>
</ol>
<p><strong>Sách Giáo Khoa, Sử Liệu</strong></p>
<ol>
<li><strong>LƯỢC KHẢO VỀ DÂN NHẠC Ở VIỆT NAM</strong>, nxb Hiện Đại, Saigon 1970. Nxb Xuân Thu tái bản, USA 1991<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/dackhao.gif" alt="" /></li>
<li><strong>MUSICS OF VIET NAM</strong>, S.I.U xuất bản, Carbondale, ILLINOIS USA 1975.</li>
<li><strong>TỰ HỌC GUITARE </strong>(3 Tập), Phạm Duy Enterprises, Midway City, CALIFORNIA USA 1976.</li>
<li><strong>HỒI KÝ </strong>(3 tập), PDC Productions, Midway City CALIFOINIA USA 1989, 1990, 1991<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/nganloica.bmp" alt="" /></li>
<li><strong>NGÀN LỜI CA</strong> PDC Productions, Midway City CALIFORNIA USA 1987, 88</li>
<li><strong>ĐƯỜNG VỀ DÂN CA</strong>, nxb XUÂN THU, Los Alamitos, CALIFORNIA USA 1990</li>
<li><strong>NỬA THẾ KỶ TÂN NHẠC</strong> (bài báo), Nguyệt san VĂN HỌC, USA</li>
<li><strong>NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA TÂN NHẠC</strong> (bài báo), Tập San HỢP LƯU, CALIFORNIA 1994</li>
</ol>
<p><strong>Viết Về Phạm Duy</strong></p>
<ol>
<li>Tạ Tỵ - <strong>Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn</strong>, Nhà xuất bản VĂN SỬ HỎC, Saigon 1971.</li>
<li>Georges Etienne Gauthier - <strong>Một Người Gia Nã Đại Và Nghệ Thuật của Phạm Duy</strong>,  khởi đăng trên bán nguyệt san BÁCH KHOA từ số 332 (1/11/70) qua các số  334, 335, 337, 339, 340, 342, 345, 346, 347, 350, 354, 355, 363, 367,  372 và chấm dứt trong số 375, tháng 7-1971.</li>
<li>Xuân Vũ - <strong>Nửa Thế Kỷ Phạm Duy</strong>, Nhà Xuất Bản Thằng Mõ, San Jose CALIFORNIA USA 1995<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/xuanvu.gif" alt="" /></li>
<li><strong>Tạp Chí Văn Học</strong>, Sự Nghiệp Văn Nghệ Phạm Duy, số đặc biệt về Phạm Duy, CALIFORNIA, tháng 10-1987CALIFORNIA USA 1995</li>
<li><strong>Tạp Chí Văn</strong>, Một Ðời Nhìn Lại, số đặc biệt về Phạm Duy, CALIFORNIA USA 2002</li>
<li><strong>Tập San Văn Hóa</strong>, Nhà Sáng Tạo Nhạc Ngữ Việt, số đặc biệt về Phạm Duy, tháng 6-2002CALIFORNIA USA 2002<img src="http://www.phamduy.com/document/shop/book/images/motdoi.jpg" alt="" /></li>
<li>Nguồn: Phamduy.com</li>
</ol>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/ph%e1%ba%a1m-duy-%e2%80%93-nhung-tinh-khuc-cua-mot-doi-nguoi/2010/10/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hồi ký PHẠM DUY</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/hoi-ky-pham-duy/2010/10/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/hoi-ky-pham-duy/2010/10/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Oct 2010 05:18:26 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Hồi ký]]></category>
		<category><![CDATA[Phạm Duy]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=442</guid>
		<description><![CDATA[Hồi ký Phạm Duy Mấy Lời Nói Đầu Kể lại chuyện mình xẩy ra từ sáu, bẩy mươi năm về trước là một việc làm không dễ. Tuy nghề nghiệp bắt buộc người nhạc sĩ phải có trí nhớ tốt để thuộc lầu hàng trăm, hàng ngàn bản nhạc, nhưng khi ngồi đào sâu ký ức để [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1>Hồi ký Phạm Duy</h1>
<div id="pd_rating_holder_179358_page_2812"><img src="http://pixel.quantserve.com/pixel/p-ab3gTb8xb3dLg.gif" border="0" alt="Quantcast" width="1" height="1" /></div>
<p><strong>Mấy Lời Nói Đầu</strong></p>
<p>Kể lại chuyện mình xẩy ra từ sáu, bẩy mươi năm về trước là một việc  làm không dễ. Tuy nghề nghiệp bắt buộc người nhạc sĩ phải có trí nhớ tốt  để thuộc lầu hàng trăm, hàng ngàn bản nhạc, nhưng khi ngồi đào sâu ký  ức để tìm về quá khứ thì tôi thấy những dữ kiện quá ư phức tạp, quá ư  hỗn độn. Tôi lại không còn ở trong nước để kiểm chứng hàng chục, hàng  trăm những nghi vấn về địa chí, về danh xưng và cũng không có trong tay  những bản đồ với tên tỉnh, tên huyện, tên phố đã được thay đổi tới 4, 5  lần dưới nhiều chính thể… Do đó HỒI KÝ THỜI THƠ ẤU-VÀO ĐỜI này có những  khuyết điểm tuy không quan trọng nhưng tác giả cũng xin một sự độ lượng  nào đó của người đọc.</p>
<p>Là con mồ côi cha quá sớm, tôi muốn dâng cuốn HỜI KÝ này lên người bố  mà tôi không được gần gũi, vì tôi tin ở huyết thống. Tôi mường tượng bố  tôi sinh ra đã có người Pháp cai trị dân Việt Nam rồi. Bên cạnh những  hành động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cùng với các bạn ”đồng chí  hướng” như Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim… bố tôi đem uẩn ức của dân nô  lệ vào đời và hoạt động trong nhiều địa hạt, khi làm công tác trong một  Nghĩa Thục, khi dùng ngòi bút tả chân trong văn chương và báo chí, khi  tranh thương với Hoa Kiều v.v… Tất cả cho mục đích thay đổi xã hội, thay  đổi cuộc đời.</p>
<p>Nói như vậy vì tôi thèm được thấy bạn đọc nhìn nhận HỒI KÝ này không  khởi sự từ những năm 20 khi tôi vừa ra đời mà còn ôm đồm thêm những dữ  kiện về thế hệ cha ông trong những năm đầu của thế kỷ. Nếu được như vậy,  toàn bộ HỒI KÝ của tôi sẽ bao trùm được đủ 100 năm của thế kỷ mà 50 năm  đầu là sự đoàn kết của tất cả ”người Việt nô lệ” — trong đó có bố con  tôi — trong việc giành Độc Lập và Tự Do. Muốn biết rõ hơn cuộc đời của  một ”người Việt tự do” — là tôi — trong 50 năm sau của thế kỷ thứ 20,  xin mời bạn đọc tiếp những cuốn HỒI KÝ tiếp theo.</p>
<p>Thế hệ ông cha ta, với các phong trào Văn Thân, Đông Du và Đông Kinh  Nghĩa Thục, thành công hay thất bại, ai cũng đều biết. Riêng tôi biết rõ  bố tôi chết đi mà chưa thực hiện được những giấc mơ của mình. Những đứa  con là nơi để bố trút bầu tâm sự. Bốn người con lớn không thừa hưởng  vẹn toàn thông điệp của bố, có lẽ tại vì các anh các chị chưa phải là  thứ ”tinh trùng bất mãn” được bố cấy vào trong mẹ. Thằng con út, khởi sự  là bào thai đã được bố gửi gấm những hoài bão vào lúc bố biết mình đã  thất bại và sắp chết. Nó lớn lên, vì sự linh thiêng của huyết thống, nó  thực hiện giấc mộng không thành của người cha ?!</p>
<p>Hình như Goethe và Maxime Gorki đã coi những ngày thơ ấu của hai ngài  là những ngày Đại Học. Vốn chẳng được theo đuổi việc học hành trong  sách vở tại nhà trường, tôi cũng bắt chước hai vị để nói rằng trường Đại  Học Âm Nhạc của tôi là kho tàng âm nhạc bình dân mà tôi hấp thụ trong  quãng đời sớm lang bạt của tôi. Thuật sống của tôi học được ở mọi tầng  lớp nhân dân mà tôi sớm được tiếp xúc. Lẽ dĩ nhiên sự giáo dục về cuộc  đời cũng đến với tôi từ mẹ ruột, từ vú nuôi, từ mẹ nuôi, từ thầy giáo,  từ bạn bè… đến cả từ những khắc nghiệt của người anh cũng như từ những  ân sủng của người tình. Xin được tri ân tất cả.</p>
<p>Tôi cũng cần phải cám ơn những người giúp tôi rất nhiều trong việc  hoàn tất HỒI KÝ này: Bạn cùng học tại những ngôi trường cũ như Bác Sĩ  Nguyễn Đình Thi (Trường Hàng Vôi), Cao Trung (Trường Bách Nghệ), Tạ Tỵ,  Võ Lăng (Trường Mỹ Thuật). Bạn tâm giao cũ hay bạn mới làm quen là những  người ở từng địa phương như Phạm Thanh Liêm, Lê Ninh (Hưng Yên), chị Lê  Tôn Hy (YênThế-Bắc Giang), Nguyễn Sĩ Hưng (Thanh Hoá), Cao Xuân Vỹ,  Nguyễn Đình Khuê (Nghệ An), Nguyễn Cúc (Huế), Hàn Vĩ, Lê Trọng Nguyễn  (Hội An), Nguyễn Văn Sang (Quảng Ngãi), Lữ Liên (Dalat), Trần Văn Khê  (Vĩnh Long). Bạn văn nghệ như Lê Văn-Vũ Bắc Tiến, Nguyễn Hiền. Tất cả đã  nhắc lại tên các rạp hát và các điạ danh của tỉnh mình, hoặc kể lại vài  mẩu chuyện cũ để cho cuốn HỒI KÝ của tôi thêm mầu sắc và thêm xác thực.</p>
<p>Lẽ ra có hai tập: HỒI KÝ THỜI THƠ ẤU và HỒI KÝ THỜI VÀO ĐỜI. Nhưng để  tiết kiệm thời giờ và tiền mua sách của bạn đọc, tôi thu gọn hai tập  vào một cuốn sách. Do đó toàn bộ HỒI KÝ chỉ còn 4 tập thay vì 5 tập như  tôi đã rao. Vậy tôi xin rao lại, và xin trân trọng mời bạn đọc cùng tôi  đi về dĩ vãng.</p>
<p>Thị Trấn Giữa Đàng,<br />
Mùa Đông 1989</p>
<h3>Đọc hồi ký nhạc sỹ Phạm Duy offline</h3>
<p>Phần 1 (click đọc)</p>
<p>Phần 2 (click đọc)</p>
<p>Phần 3 (click đọc)</p>
<p>Phần 4 (click đọc)</p>
<p>——————————————</p>
<p>Đọc sơ lược phần 1 phía dưới</p>
<h2>Phần I</h2>
<p>Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui<br />
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…<br />
<strong>XUÂN CA</strong></p>
<p>Chương 1</p>
<div>
<dl>
<dt><img title="lenmot" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/lenmot.jpg?w=260&amp;h=351" alt="" width="260" height="351" /></dt>
<dd>Lên một, trong lòng mẹ</dd>
</dl>
</div>
<p>Tôi ra đời tại nhà hộ sinh ở số 40 Rue Takou (phố Hàng Cót) Hà Nội  vào lúc 1 giờ 15 sáng ngày 05 tháng 10 năm 1921, theo âm lịch là ngày  mùng 5 tháng 9 (nhuận) năm Tân Dậu. Trước đó vài giờ, mẹ tôi còn đang ôm  bụng ngồi đánh tổ tôm với mấy bà bạn và với Bác Hàn Làng Vẽ (1).</p>
<p>Mẹ tôi vừa ù xong ván bài tổ tôm thì dở dạ và người nhà vội vàng đưa  vào nhà đẻ. Do đó, khi tôi lớn lên, mỗi lần gặp Bác Hàn là bác nhắc tới  chuyện ván bài tổ tôm và gọi tôi là thằng Tôm. Ai ngờ bây giờ về già,  tôi cũng trở thành một thứ Uncle Tom.</p>
<p>Tuy luôn luôn đắc ý cho rằng mình ra đời trong một canh bạc thắng của  mẹ, nhưng khi lớn lên thằng Tôm này lại khoái với cái tên tự do chính  mình đặt ra làMộng Vân. Vì sao ? Vì trong một lúc quá yêu Tôm, mẹ buột  miệng nói rằng đã nằm mơ thấy những đám mây trong thời kỳ có mang… Lại  cũng là một cái tên tiền định. Thằng Tôm sẽ như mây, lang thang suốt  đời. Và khi du nhập vào nghề hát rong thì đụng ngay một đoàn hát Cải  Lương mang tên Gánh Mộng Vân.</p>
<p>Ngoài hai tên hiệu đó, cái tên thật — rất quan trọng vì là tên cúng  cơm — cha mẹ đặt cho khi tôi vừa chào đời, tuy nó chẳng ngộ nghĩnh hay  thơ mộng gì cho lắm, nhưng khi tôi trở thành ca sĩ của một gánh hát rong  và chỉ dùng chữ họ và chữ đệm để cho khán giả dễ nhớ tên thì… cái tên  cúng cơm đó biến mất. Ngay chị ruột tôi, về sau, cũng chỉ gọi tôi bằng  tên đệm mà thôi. Giống như là có một sự quên tên hay kiêng tên vậy. Có  điều chắc chắn là tôi đã ra thoát được tục lệ từ xưa của người Việt là  thường đặt những cái tên rất xấu xí cho con cái để ma quỷ không thèm bắt  đi như : (xin lỗi) thằng Buồi, thằng Đít vân vân…</p>
<p>Bố tôi là Phạm Duy Tốn, được người đời biết như là một nhà báo, một  nhà văn đã từng tiếp súc với văn hóa Âu Tây và đã không còn là một nhà  nho thuần túy nữa, nhưng khi bố tôi đặt tên cho con cái thì đều dựa vào  chữ nho cả. Tên của ông cũng như tên của các con đều là tên của những  đức tính và nếu viết bằng chữ nho thì chữ nào cũng nằm trong bộ ngôn,  nghĩa là bộ chữ thuộc vào những hạng người thích ăn to nói lớn.</p>
<p>Anh cả của tôi mang tên Khiêm, tới hai người chị là Thuận và Trinh,  rồi tới người anh hơn tôi 2 tuổi là Nhượng. Hai người anh trong thực tế  sẽ sống bằng nghề ăn nói, họ đều là những ông thầy dạy học. Nhưng họ đều  giống tôi ở chỗ tính nết sẽ không như cái tên bố đã đặt cho. Ông Khiêm  nhiều khi có vẻ thiếu khiêm cung. Ông Nhượng không hẳn lúc nào cũng  nhường nhịn em nhỏ. Còn tôi, với cái tên Cẩn, nếu suốt đời đã sống nhờ  chữ ”ngôn” trong cái tên thì trái với điều mong muốn của bố tôi, chẳng  bao giờ tôi thấy trong tôi có được một sự cẩn trọng tối thiểu ! Tuy vậy,  về sau tôi cũng học mót bố tôi trong việc đặt tên cho tám đứa con.  Chúng đều phải mang những cái tên tốt đẹp như : Quang, Minh, Hùng,  Cường, Hiền, Thảo, Đức, Hạnh. Tôi đã thừa hưởng tinh thần hướng thượng  của bố tôi vậy.<br />
<img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/coan.jpg" alt="" hspace="15" align="right" /></p>
<p>(Ảnh bên : Cô tôi)</p>
<p>Ông nội tôi là người đã từng giữ chức Thiên Hộ — chef de quartier —  cai quản một khu phố trong nội thành Hà Nội. Ông bà tôi chỉ có hai người  con, một trai là bố tôi và một gái (chúng tôi gọi là cô Án) lấy chồng  làm Án Sát ở Bắc Ninh. Cô tôi có người con rể là hoạ sĩ Côn Sinh, chuyên  vẽ hí hoạ cho báo LOA, người khuyến khích tôi vào học trường Mỹ Thuật  sau này.</p>
<p>Tôi không biết mặt ông nội nhưng bà nội thì có ảnh chụp từ ngày xưa  để lại. Trông bà thật là đẹp đẽ. Lúc còn bé, không nhớ đã có ai trong họ  cho tôi biết rằng bà là một ca kỹ tài danh của một thuở xa xưa, lọt vào  đôi mắt hào hoa của tay chơi Thiên Hộ Phạm Duy Đạt rồi được ông cưới về  làm vợ. Các con, cháu và chắt của bà có trở thành những văn nhân, tài  tử cũng nhờ ở huyết thống này. Trong bức ảnh cũ, thấy bà còn có vẻ phúc  hậu nữa. Nhưng theo lời mẹ tôi kể thì bà không hiền lành lắm đâu, còn có  thể nói là ác nghiệt nữa :<br />
– Không phải ác với tao mà ác với bố mày…</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/family.jpg" alt="" /><br />
Đại gia đình</p>
<p>Bố tôi là một trong những người Việt Nam đầu tiên cắt búi tó và mặc  âu phục. Không biết lúc chuẩn bị cắt tóc bố tôi có sai vợ lập ban thờ để  làm lễ xin tổ tiên tha cho cái tội tày trời như những người cùng cảnh  ngộ hay không ? Nhưng sau khi bố tôi cắt tóc, bà tôi buồn rầu và căm  giận đến độ từ đó trở đi, mỗi một buổi sáng vừa mở mắt dậy là bà tôi  ngồi chửi con. Bà cứ ngồi ở đầu giường, không thèm đi xúc miệng vì muốn  làm tăng ác độ của câu chửi… Kèm theo câu chửi là câu rủa… Đệm vào câu  rủa là một cái bát đàn — loại bát bằng đất nung, rẻ tiền nhất — được bà  tôi đập xuống đất vỡ tan. Rủa cho bố tôi chết. Lời rủa có vẻ hiệu  nghiệm. Bố tôi chết trước bà tôi hai năm.</p>
<p>Mẹ tôi là con dâu nên coi thái độ đó của mẹ chồng là nghiệt ngã nhưng  tôi không nghĩ rằng bà tôi là người ác tâm. Bà là đại diện của một nền  văn minh cũ, mang trong lòng tất cả những tín ngưỡng rất lâu đời và khó  bỏ. Việc cắt tóc của bố tôi không chỉ là một hành động chống lại mẹ, nó  còn là sự đả phá một kỷ luật đã có hằng mấy trăm năm, nếu không dám nói  là cả nghìn năm. Có cái gap generation nào mà không làm đau lòng những  người trong cả hai thế hệ ?</p>
<p>Ông ngoại tôi lúc sinh thời — được gọi là cụ Tú Hàng Gai — có nhiều  học trò lắm, mỗi lần tới ngày kỵ của ông thì có rất đông học trò cũ từ  miền quê lên Hà Nội và tới phố Hàng Gai để cúng giỗ. Ông ngoại tôi có  hai vợ, do đó họ ngoại của tôi đông hơn bên họ nội. Không biết mặt ông  bà ngoại nhưng bà trẻ — nàng hầu của ông ngoại — thì tôi biết. Bà trẻ  hiền lành lắm. Không đẹp đẽ và oai phong như bà nội ở trong bức ảnh cũ,  bà trẻ là hình ảnh của sự chịu đựng nơi những người sinh ra để làm vợ  thứ. Dù con cái của bà — cậu Khuê và dì bé lấy chồng làm Tham Tá tên là  Nhữ — đều là những người có địa vị trong xã hội nhưng lúc nào bà cũng  sống như một chiếc bóng nhạt mầu.</p>
<p>Mẹ tôi là con gái của một ông thầy đồ và trước khi lấy chồng, mẹ tôi  là cô hàng bán sách ở phố hàng Gai. Tôi không biết tên họ của ông bà  ngoại nhưng một hôm gặp bà dì ruột ở Saigon vào khoảng 1970 thì dì nói :<br />
– Mày có biết bà họ gì không ? Họ Lưu, dòng dõi Lưu Vĩnh Phúc đó !</p>
<p>Thế ra trong tôi có dòng máu nổi loạn à ? Người Pháp gọi Lưu Vĩnh  Phúc là giặc — Giặc Cờ Đen — nhưng đối với tôi, ông là người làm Cách  Mạng.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/bachiem.jpg" alt="" /><br />
Ba chị em : Bác Hai, Mẹ và Gì Năm…</p>
<p>Tôi có khá nhiều các bác, các dì, các cậu và có rất đông các anh em,  chị em họ cùng với một rừng các cháu gọi tôi bằng chú và bằng cậu. Một  trong những người anh họ của tôi là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, con của Bác  Hai Hàng Đường. Tôi thường được ngồi ngắm tác giả Cổ HšC TINH HOA, T�C  NGỮ PHONG DAO… nằm hút thuốc phiện.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/onnhu.jpg" alt="" hspace="20" align="left" /><br />
(Ảnh bên : Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, tác giả Tục Ngữ Phong Dao)<br />
Trong đại gia đình tôi, không phải chỉ có anh Ngọc mới là bạn của Nàng  Tiên Nâu. Tôi có bao nhiêu ông chú, ông cậu, có bao nhiêu ông anh hay em  họ là có bấy nhiêu ông tiên. Thậm chí sau này, con của cậu tôi, tên là  Bá, còn mở hẳn một tiệm hút ở phố Hàng Dầu, không có một nhà văn Hà Nội  nào hằng đêm là không tới đó để gặp nhau. — đây, tôi hay gập Đồ Phồn,  Lan Sơn, Đàm Quang Thiện…</p>
<p>Nói tới đại gia đình là nhớ tới nhưng ngày đại giỗ. Gia đình càng lớn  thì hằng năm càng có nhiều ngày giỗ. Vào những ngày này, tôi mới được  gặp gỡ tất cả mọi người và tôi có nhận xét là các bác, các cậu và các  anh họ tôi ai cũng có giọng nói rất lớn. Nói chuyện trong nhà mà như  người ta cãi nhau khi mổ bò. Ngược lại, các mợ, các dì, các cháu gái lại  nói năng rất khẽ như bị đàn ông ăn hiếp vậy. Ít khi tôi được ăn cơm với  người lớn. Tôi và lũ cháu trai — gần bằng tuổi nhau nên toàn xưng hô  mày, tao — tranh nhau từng miếng gan gà hay mảnh trứng muối. Mấy thằng  cháu này hơn tôi ở chỗ chúng nó uống rượu như uống nước lã. Trong ngày  giỗ, chỉ có con trai được cho vào ăn chung một mâm và ăn trước. Con gái  đều phải chui xuống bếp để giúp việc rồi ăn sau. Tinh thần trọng nam  giới của gia đình tôi vào đoạn đầu của thế kỷ 20 này dường như vẫn còn  đeo đẳng tôi cho tới tận bây giờ.<br />
_________________<br />
(1) Bác Hàn là họ bên nội.</p>
<p>Chương 2</p>
<p><em>Nhà tôi ở Phố Hàng Dầu<br />
Số nhà 54, đứng đầu… du côn…</em><br />
Phạm Duy Cẩn</p>
<div id="attachment_2814"><img title="mamay" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/mamay.jpg?w=394&amp;h=251" alt="" width="394" height="251" />Phố Mã Mây &#8211; Rue Des Pavillons Noirs &#8211; circa 1920</div>
<p>Ít lâu sau khi tôi ra đời, gia đình  họ Phạm dọn từ phố Mã Mây (Rue Des Pavillons Noirs — phố Cờ Đen, lại một  cái tên có liên hệ tới gia đình tôi) xuống phố Hàng Dầu (rue  Fellonneau), một con phố có chưa tới 30 căn nhà thấp bé nằm ôm lấy nhau.</p>
<p>Bên phải phố Hàng Dầu là phố Bờ Hồ  nằm đối diện với một khu đất trên đó có Đền Bà Kiệu và rạp chiếu bóng  Pathé. Hồ Gươm không xa nhà tôi mấy. Đứng trước cửa nhà, tôi có thể nhìn  thấy mặt hồ lúc nào cũng lặng lẽ và xanh đục. Và thấy xe điện leng keng  lọc cọc đi ngang. Trong 17 năm sống với thủ đô, tôi có tới 14 năm sống  chung quanh hồ Gươm cho nên Hà Nội đối với tôi chỉ là Đền Ngọc Sơn, Cầu  Thê Húc, Tháp Rùa, đền Bà Kiệu và khu vườn nhỏ bên bờ hồ là nơi tôi hay  ra leo lên cây đa hoặc lúi húi hái hoa bắt dế. Trong 3 năm còn lại, tôi  theo gia đình lên ở bên cạnh Hồ Trúc Bạch trước khi rời xa Hà Nội đi  sinh sống ở Moncay, Hưng Yên, Kiến An, Bắc Giang. Thỉnh thoảng ghé về  thăm mẹ, tôi không có đủ thời gian để yêu được tất cả Hà Nội 36 phố  phường.</p>
<p>Các nhạc sĩ như Trần Văn Nhơn, Hoàng Dương (em họ của Thái Hằng, vợ  tôi), Nguyễn Đình Thi… khi thương hay khi nhớ Hà Nội, họ đều có những  bài hát nói tới đầy đủ các khu các phố. Văn Cao có bài <em>Thăng Long Hành Khúc</em> xưng tụng đủ cả Nhị Hà, Tháp Gươm, Văn Miếu, Cột Cờ, Tràng Thi… Tôi chỉ  có một mối tình dành riêng cho hồ Hoàn Kiếm mà thôi. Qua bài <em>Gươm Tráng Sĩ…</em></p>
<p>Đã có nhiều nhà văn cho chúng ta thấy cái thơ mộng của hồ Gươm. Anh  bạn Nguyễn Đình Toàn nhìn nó như trái tim của Hà Nội rồi còn nghe được  tiếng guốc thiếu nữ reo vang trên những lối đi quanh hồ… Ông còn ví hồ  này, vào mùa thu, giống như con mắt buồn bã của người tình. Tôi cũng  thấy như vậy. Nhưng vì quanh năm sống với hồ Gươm nên tôi còn thấy nó  trong những hoàn cảnh ít nên thơ hơn, như ra coi những xác người treo cổ  trên cây đa bên bờ hay trầm mình xuống hồ nước, vì thất tình hay vì lý  do buồn bã hơn là sự túng quẫn.</p>
<p>Nói tới Hồ Gươm, người ta còn nói tới mùi nhang thơm trong đền Ngọc  Sơn hay nói tới môi hôn ngọt của cặp tình nhân trên cầu Thê Húc. Tôi  được sống lâu với chiếc cầu và ngôi đền nên còn nhìn thấy cả đám ăn mày  ngồi la liệt trên lối ra vào với lũ ruồi bu đầy trên những đôi mắt toét  đỏ lòm. Và cảnh nhà nho cuối cùng mặc áo bông rách, ngồi viết những chữ  Phúc Lộc Thọ hay những câu đối trên giấy đỏ… chỉ làm tôi bùi ngùi hơn là  bồi hồi. Hồ Gươm với tôi là giọt lệ, không phải lệ ngọc ngà mà là lệ  buồn thương.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/hoguom2.jpg" alt="" /><br />
Hồ Gươm, thời tôi còn nhỏ</p>
<p>Hồ Gươm còn có những buổi chiều mùa lạnh với sương mù toả xuống mặt  hồ, cảnh vật mờ ảo làm tôi tưởng tượng như đang sống trong một truyện  Liêu Trai. Tôi vừa sợ, vừa thèm gặp con ma hồ Gươm mà người trong khu  phố cho rằng nó thường hay ra đây dụ dỗ người ta tự tử. Hình như con ma  này đẹp lắm !Đối diện với Hồ Gươm là rạp chiếu bóng Pathé. Phía sau rạp  có bãi đất rộng, thỉnh thoảng người Tầu tới dựng lều làm trò múa rối.  Những màn múa rối này tinh vi hơn múa rối Việt Nam tôi được coi ở Hội  Chùa Thầy. Chỉ mất có mấy đồng trinh mà tôi được biết nhiều màn ca kịch  rất linh động của truyện Tầu trước khi biết chữ để đọc tiểu thuyết. Tại  đây còn có Ông Hai Tây hay tới làm trò đóng đinh lỗ mũi và trò quỷ  thuật. Ông Hai Tây còn thổi kèn bằng mu bàn tay và bằng ống đu đủ. Có  thêm những người Tầu bán thuốc Sơn Đông và đánh võ. Họ dán thuốc cao vào  những vết dao mà họ chém trên ngực để cho chúng tôi thấy công hiệu của  thuốc cao. Nếu là ngày hội 14 Juillet (lễ Quốc Khánh của Pháp) thì tại  đây có các cuộc vui như leo cột mỡ, đập nồi, bịt mắt bắt vịt. Nhất là có  những đám hát xẩm…</p>
<p>Tất cả những biến cố nghệ thuật và những trò chơi bình dân này đã gây  nên giấc mộng giang hồ và cái thú biểu diễn nơi cậu bé họ Phạm. Rồi đã  có lần tôi bỏ nhà đi theo một anh làm trò quỷ thuật sau khi bị mê hoặc  thêm bởi cuốn tiểu thuyết <strong>Vô Gia Đình</strong> (Sans Famille)  của nhà văn Pháp Hector Malot. Nhà văn này đưa ra nhân vật tiểu thuyết  là một ca sĩ nổi danh một thời rồi chẳng may bị mất giọng. Muốn giữ mãi  hình ảnh tuyệt vời của mình trong lòng người, anh thay tên đổi họ và  sống cuộc đời lang thang trong một gánh xiếc nhỏ. Cuối cùng anh chết vì  đói rét trong khi tên tuổi anh vẫn còn vang lừng khắp Âu Châu.</p>
<p>Bên trái phố Hàng Dầu là phố Hàng Tre thông ra bờ đê sông Hồng. Vào  mùa nước cạn, tuy cho chuồn chuồn cắn rốn nhiều lần mà vẫn chưa biết bơi  nên tôi hay chạy chơi trên bãi cát rộng. Nhưng vào mùa nước lớn, dù  trong đêm tối, tôi cũng ra bờ đê để coi mọi người trong khu phố phấp  phỏng ngồi canh mực nước, chuẩn bị đề phòng nạn lụt. Dòng sông Cái  (nghĩa là sông Mẹ ?) bình thường êm ả nay bỗng trở thành bà mẹ hung dữ  khiến tôi sợ lắm ! Đứng nhìn dòng nước phóng đi như điên cuồng, tôi thấy  con sông lúc thường đỏ thắm vui tươi, trong mùa lụt, sông Hồng giận dữ  và đỏ ngầu như máu đục.</p>
<p>Phía sau phố tôi là phố Hàng Bè, nơi vú già hay giắt tôi đi chợ và  phố Hàng Thùng, nơi có lớp mẫu giáo để tôi đi vào chữ nghĩa khi tôi lên  6. Phố nào cũng ngắn với dãy nhà tí hon. Riêng phố Hàng Bè có thêm ngôi  nhà ba tầng — gọi là nhà Tây — của Bác Sĩ Lê Văn Chỉnh, người gốc miền  Nam, có người con trai không hiểu vì sao mà tự tử (bằng súng lục). Cái  chết của con Bác Sĩ Chỉnh và của những người tự vẫn ở Hồ Gươm ám ảnh tôi  rất lâu.</p>
<p>Người mở lòng cho tôi trong lớp mẫu giáo ở phố Hàng Thùng là một thầy  giáo mặc áo the thâm, đầu đội khăn xếp, với bộ râu nằm ngang trên cái  miệng răng đen, trông thầy giống như một bức tranh hí hoạ. Lớp học trong  cái phố chuyên môn làm thùng gánh nước bằng sắt tây, cậu bé hỉ mũi chưa  sạch là tôi thường ê a đọc bài với nhịp điệu văng vẳng của tiếng đập  thùng nghe giống như tiếng trống nhạc jazz vậy.</p>
<p>Đầu phố Hàng Dầu và xế nhà tôi là một cửa hàng tạp hoá với những món  hàng rất sơ sài. Bà chủ cũng góa chồng như mẹ tôi nhưng không có con nên  bà yêu tôi lắm, thường cho ăn ô mai không lấy tiền. Bên cạnh cửa hàng  của bà là nhà làm nước đá, có nước nóng để tôi được tắm táp trong những  ngày đông giá. Khu phố tôi chưa có ống dẫn nước, vú già phải đi gánh  nước về, ít khi có chuyện đun nước để tôi tắm.</p>
<p>Gọi là phố Hàng Dầu nhưng tôi chỉ thấy có một cửa hàng bán dầu ở xế  cửa. Vào thời tôi mới sinh ra, Hà Nội không còn dùng dầu lạc để đốt đèn  nữa vì đã có đèn điện và có loại đèn Hoa Kỳ dùng dầu lửa (pétrole) tiện  lợi và sạch sẽ hơn dầu lạc. Hoa Kỳ láu cá lắm, biếu không cho người Việt  Nam hàng vạn cái đèn để khi có đèn rồi thì phải mua dầu của họ. Cạnh  nhà tôi là nhà Ông Ký Hải, ông lang nổi tiếng. Các cháu bé của ông là  những bạn thân thiết nhất của tôi thời thơ ấu. Trong thời gian ở phố  Hàng Dầu, tôi không thấy hàng xóm cũ dọn đi hay láng giềng mới dọn tới.  Chỉ gia đình tôi là sẽ rời bỏ con phố này khi anh Khiêm từ Pháp về sau 7  năm du học.</p>
<p>Nhà của chúng tôi ở giữa phố và cũng thấp bé như những nhà trong phố  nhưng lại rộng hơn nhà Bác Hai phố Hàng Đường hay nhà cậu Trưởng phố  Hàng Gai. Trong nhà có xây sáu cái giường quây chung quanh một cái sân  nhỏ lộ thiên nằm giữa nhà. Tôi thường nằm trên giường để nhìn nước mưa  buồn buồn chẩy xuống những chậu hoa trên sân. Hoặc ra sân để tắm mưa.</p>
<p>Dưới gầm của những giường ngủ có chôn những cái vại bằng sành rất lớn  để đựng dầu. Mua lại căn nhà là một cửa hàng bán dầu nhưng bố mẹ tôi  không sinh sống bằng nghề bán dầu, những vại dầu trống không này chỉ là  một thứ đồ chơi của tôi khi còn bé. Chơi đi trốn với anh chị hay với bạn  bè, tôi thường hay nhẩy vào một trong những vại dầu cao hơn đầu tôi  này. Vì trong nhà có tới 12 cái vại cho nên bắt được tôi rất khó, tôi đã  phải nằm trong đó rất lâu để tưởng tượng mình là Ali Baba của truyện  thần thoại Ả Rập.</p>
<p>Nơi quan trọng thứ nhất của nhà tôi là bàn thờ tổ tiên, chiếm hết một  phần sáu của diện tích căn nhà. Trước bàn thờ là hai bức tường có gắn  những tượng người bằng sành rất đẹp. Vào ngày Tết Nguyên Đán, bàn thờ  được mẹ tôi làm cho lộng lẫy từ ngày ông Táo về trời và được duy trì cho  tới sau ngày 21 tháng giêng, nghĩa là sau hai cái giỗ của bà nội tôi và  của bố tôi, rồi mới được buông mành che đi. Tôi được ăn Tết lâu hơn các  trẻ con khác trong phố.</p>
<p>Nơi quan trọng thứ hai là cái giường gỗ lim nơi mẹ con tôi nằm ngủ,  kê sát tủ chè có tranh ảnh nạm bằng sà cừ rất tinh vi. Ở chân giường,  trước mặt cái sân nhỏ, là hai chiếc ghế gụ để khách tới ngồi chơi trong  khi chủ nhân ngồi xếp chân bằng tròn trên giường tiếp chuyện. Nếu có  đánh chắn hay tổ tôm thì canh bạc cũng xẩy ra ở chỗ này. Cuộc chơi bao  giờ cũng kéo dài tới đêm khuya, tôi đi ngủ sớm thì phải nằm cạnh những  canh bài đỏ đen, tai nghe thoang thoảng những tiếng reo được thua trong  cơn mộng mị.</p>
<p>Nơi không được coi là quan trọng trong căn nhà là cái chồ. Địa điểm  phải được gọi là phòng vệ sinh này bé bằng cái hộp, to béo như tôi bây  giờ thì không thể nào chui vào ngồi xổm trong đó một cách dễ dàng được.  Không có hầm phân mà chỉ có thùng phân. Vài ba ngày, có người của ông  nhà thầu Năm Diệm đem thùng khác tới đổi thùng đựng đầy phân. Đổi thùng  thường làm vào nửa đêm về sáng. Lúc đó, tiếng phu đổi thùng gõ cửa ầm ầm  trong đêm thanh vắng thường làm thằng bé này giật mình thon thót. Chắc  tiếng gõ cửa bắt người ban đêm cũng chỉ hãi hùng đến thế mà thôi.</p>
<p>Hoài niệm thời thơ ấu, ai cũng có kỷ vật, nhân vật hay một chuyện nào  đó để bâng khuâng nhớ. Tôi nhớ nhất cái đồng hồ cũ kỹ đặt trên mặt tủ  chè. Nó là chứng tích rõ ràng nhất của thời gian. Mỗi một tích tắc hay  một hồi chuông của nó ghi lại một li ti hay một khoảng ngắn của thời tôi  còn thơ. So với những đồ vật khác trong nhà, chỉ có nó có sự sống.</p>
<p>Bà con hàng xóm trong khu phố tôi là những người dân hiền lành sống  cuộc đời âm thầm nhưng cũng có một nhân vật dị thường khiến tôi để ý.  Tên anh là Hùng, nhưng ai cũng gọi là Khùng. Hằng ngày, anh bắc ghế đẩu  ra ngồi ở ngã tư, thấy ai đi qua cũng chào. Chào bằng đủ mọi thứ tiếng.  Mọi người đều cho anh là thằng hoá dại. Trẻ con thường quây chung quanh  anh để chọc ghẹo. Riêng tôi, lúc nào cũng ngẩn ngơ đứng nhìn con người  kính chào không mỏi mệt này. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ gương mặt  hiền hoà của một người lịch sự nhất phố Hàng Dầu.</p>
<p>Hà Nội có những buổi trời mưa thật to, mưa nặng nề như mưa đá vậy. Có  thêm những tia chớp lớn. Những hạt mưa cục đập xuống mặt đường chưa  trải nhựa, làm thành những bong bóng to. Ngồi trên bậc cửa nhìn qua nhà  trước mặt, thằng bé này biết nhớ nhung da diết một con bé tên là Nguyệt.  Nó thấy được nỗi buồn của một câu ca dao để rồi sẽ đưa vào một bản  trường ca :</p>
<p><em>Đêm qua chớp bể mưa nguồn<br />
Hỏi người bên đó có buồn hay không ?</em></p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/54loxu.jpg" alt="" /><br />
…50 năm sau, tôi trở về ngôi nhà cũ ở 54 Phố Hàng Dầu<br />
(bây giờ đổi tên là Phố Lò Sũ) với con trai thứ…</p>
<p><strong>Chương Ba</strong></p>
<p><strong><img title="bo" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/bo.jpg?w=199&amp;h=280" alt="" width="199" height="280" /></strong></p>
<p><em>Con cóc nhẩy ra<br />
Con cóc nhẩy vô<br />
Con cóc ngồi đó<br />
Con cóc nhẩy đi…</em><br />
Thọ An Phạm Duy Tốn<br />
ghi lại trong <strong>TIẾU LÂM AN NAM</strong></p>
<p>Tôi không có một kỷ niệm nào với bố  tôi cả. Ông chết đi khi tôi mới lên hai. Theo lời mẹ tôi nói thì bố tôi  có hình vóc hao gầy, mặt rỗ hoa, rất vui tính, hay nói đùa và chọc ghẹo  bạn bè, vợ con. Tôi rất giống bố tôi ở điểm này.</p>
<p>Ông làm nhiều nghề ngoài nghề viết  văn, viết báo. Sau khi tốt nghiệp ở trường Thông Ngôn, ông làm thông  dịch viên ở một vài toà công sứ tỉnh nhỏ. Rồi bỏ đi làm thư ký cho một  chi nhánh của Banque de L’Indochine ở tỉnh Mông Tự bên Tầu. Rồi mở nhà  hàng cao lâu ở phố Cầu Gỗ, mở tiệm vàng ở phố Hàng Đào. Sau đó, đi tìm  mỏ than hay mỏ vàng gì đó ở Quảng Yên… Trong đời, tôi cũng hay đổi nghề  như bố. Vào với nghề viết văn, bố tôi chọn con đường tả chân và phê bình  xã hội, khi thì viết những truyện ngắn rất đứng đắn khiến cho truyện  của ông về sau được đưa vào giáo trình của Bộ Giáo Dục, khi thì sưu tập  và phóng tác những chuyện tiếu lâm (dưới bút hiệu Thọ An). Những lúc tôi  soạn loại bài hát phê bình xã hội như tâm ca hay tục ca tôi đều liên  tưởng tới việc làm của một người bố tuy không gần gũi mà hoá ra thân  thiết. Sau khi làm báo và cũng đã là một người khá nổi danh trong xã hội  rồi, cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, bố tôi được bầu làm Hội Viên Thành Phố  Hà Nội và được cử đi dự Đấu Xảo Marseille vào năm 1922. Trở về nhà, ông  lâm bệnh và tới năm 1924 thì ông qua đời vì bệnh ho lao. May mắn cho tôi  là anh chị tôi còn giữ được một số tài liệu về bố tôi. Chẳng hạn những  lá thư hay những bưu ảnh bố tôi gửi về khi ông đi Nam Kỳ hay đi Pháp.  Chẳng hạn những mẩu báo <strong>Trung Bắc Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo, Khai Hoá Nhật Báo…</strong> đăng tin ông mất vào năm 1924 trong đó có phần tiểu sử của bố tôi.  Những tài liệu này được anh chị tôi đem qua Pháp từ lâu và gửi cho bản  sao trước năm 1975. Do đó, tôi được ”gặp” lại bố tôi trong những kỷ vật  này.</p>
<p>Báo <strong>Trung Bắc Tân Văn </strong>số 2078 ra ngày 25 tháng 2 năm  1924 cho tôi biết rõ hơn bức chân dung của bố tôi. Trước hết là con  người ký giả, văn sĩ Phạm Duy Tốn :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*">… Ông Tốn khi mới tốt  nghiệp trường Thông Ngôn ở Yên Phụ năm 1901 thì bổ làm thông ngôn ngạch  toà sứ Ninh Bình rồi đổi sang Thị Cầu (toà sứ Bắc Ninh). Ngay lúc bấy  giờ ông đã nổi tiếng là một tay thông ngôn có đặc sắc và bắt đầu kết bạn  với ông Nguyễn Văn Vĩnh, bản báo chủ nhiệm, lúc đó cũng làm thông ngôn  một toà…</td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Bài báo này cho biết thêm là bố tôi được :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*">…<em> … quan trên tin  dùng (…) giá ở người khác ắt có thể làm nên phú quí lắm, nhưng cái chí  khí cao thượng, cái tâm huyết hăng hái của ông, không hám về đường công  danh phú quí như ai, cho nên dù được tín dụng thế nào mặc lòng, ông cũng  xin từ chức mà vào làm biên tập trong Đại Việt Tân Báo là cái báo quốc  văn ra đời trước nhất tại xứ ta. Vậy thì trong làng báo, cùng với bản  báo chủ nhiệm, ông là người vào làng trước nhất vậy.</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>1913. khi mở tờ <strong>Đông Dương Tạp Chí </strong>thì ông ở Mông Tự có gửi nhiều bài về đăng báo, rồi ông lại từ hẳn Mông Tự mà về giúp một tay trong bộ biên tập báo <strong>Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn</strong> và <strong>Công Thị Báo. </strong>Ngoại những bài xã thuyết có giá trị của ông, thì ông lại sở trường nhất về lối<strong>Hài Văn</strong> và <strong>Đoản Thiên Tiểu Thuyết</strong> là hai mục ông đã gây ra trước nhất trong báo giới vậy. Bài báo viết  tiếp, về nghề làm báo, bố tôi được tiến cử vào Nam để chủ trương tờ <strong>Lục Tỉnh Tân Văn </strong>rồi khi trở ra Bắc thì giữ chức tổng thư ký trong bộ biên tập Học Báo…</p>
<p>Về con người kinh tế của bố tôi, bài báo này viết :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… Về đường kinh tế thì ông có mở một cửa hàng <strong>Tân-Nam-Lâu</strong> là cửa hàng khách sạn của người Việt Nam ta mới có là một; ngày ấy là  ngày vào khoảng 1908 là lúc cái phong trào khai thương ở xứ ta mới nhóm  lên. Cánh nam nhi học thức mình mới thoát tỉnh cái giấc mộng hư văn mà  không cho việc buôn là tiện nghệ; trong cảnh đó thì ông có thể kể vào  tay kiện tướng tiên phong vậy.</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Thuyết gia Hoàng Văn Chí, trước khi qua đời, qua một bài báo đăng trên báo <strong>Người Việt</strong> ở Cali gần đây, đã có cái nhìn rất đúng về xã hội Việt Nam. Ông cho  rằng Trung Hoa có bốn thành phần Sĩ, Nông, Công, Thương nhưng người Việt  chỉ có ba : Sĩ, Nông, Công. Từ xưa ông bà ta coi nghề buôn là tiện nghệ  (nghề hèn hạ) nên vào đầu thế kỷ này, nghề buôn bán hoàn toàn nằm trong  tay Hoa Kiều. Thành phố nào cũng có một phố khách là nơi có đầy đủ các  tiệm hàng lớn nhỏ của người Tầu. Bố tôi là một trong những người Việt  đầu tiên muốn ra thoát giấc mộng hư văn, giành lại quyền kinh tế của  nước mình nơi tay các khách trú hay chú khách.</p>
<p>Vẫn trong bài báo đó :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… Mấy năm sau ông lại có mở một cửa hàng buôn đồ vàng bạc, tức là cái cửa hàng <strong>Nam Bảo</strong> đã có tiếng mà ông để lại cho một đồng bang kế nghiệp. Ông vốn không  phải là nhà buôn, sự khai thương của ông cũng vì một cái tân tư tưởng  của ông nóng nẩy quá nó xui giục ông làm vậy…</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Ông nóng nẩy thực ! Theo Vũ Bằng viết trong báo <strong>Văn </strong>số 169 ra ngày 1 tháng 1 năm 1972 tại Saigon là số đặc biệt <strong>Tưởng Niệm Phạm Duy Tốn</strong>,  bố tôi thủ một vai quan trọng trong vụ tẩy chay người Tầu ở Hà Nội vào  lúc bố tôi là người tiên phong trong phong trào khai thương ở xứ ta :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… Phạm Duy Tốn đã đứng trước cửa tiệm <strong>Nam Bảo</strong> phố Hàng Đào chỉ huy thanh niên chống lại đội xếp đàn áp các người biểu  tình tẩy chay Hoa Kiều ăn cơm gạo của ta béo mập rồi quay lại khinh bỉ  dân ta… </em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Vũ Bằng còn ghi thêm :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… Mở tiệm kim hoàn ở  Hàng Đào, cụ Phạm Duy Tốn đã khéo áp dụng cái cười để quảng cáo cho cửa  tiệm. Riêng về cách quảng cáo ấy cũng hết sức mới, so với lúc bấy giờ.  Cụ thuyết phục được các đào kép rạp<strong> Quảng Lạc</strong> quảng cáo  cho tiệm vàng của cụ. Nhiều lần người ta thấy đào Cưỡng và đào Đinh  đóng tuồng Nhất Bộ Nhất Bái Phàn Lê Huê và Quan Công Phò Nhị Tẩu giơ tay  lên trời nói một câu rất trơ mà cũng rất công hiệu : ”Ra hiệu Nam Bảo  mua vàng đeo tay… ”</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Tuy vậy, tôi phải chua sót mà nói rằng bố tôi đã thất bại lớn trong công việc kinh doanh. Khách sạn <strong>Tân Nam Lâu </strong>và tiệm vàng <strong>Nam Bảo</strong> được mở ra với ý định tranh thương với Hoa Kiều, đã không thành công.  Bố tôi chết đi để lại khá nhiều những món nợ mà mẹ tôi và anh Khiêm phải  mất hàng chục năm sau mới trả hết.</p>
<p>Cần phải biết động lực nào đẩy bố tôi đi vào thương trường trong khi  đáng lẽ ra ông chỉ nên đứng ở điạ vị một người cầm bút. Chỉ mãi gần đây  tôi mới đọc cuốn <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục </strong>của Nguyễn Hiến Lê do LÁ BỐI ấn hành tại Saigon năm 1968 và nhờ đó biết thêm con người chính trị Phạm Duy Tốn.</p>
<p>Nguyễn Hiến Lê viết :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… cụ Tây Hồ [Phan  Chu Trinh] kể rõ phương pháp của Khánh Ứng nghĩa-thục [của Trung Hoa] và  đề nghị lập tại Hà Thành một nghĩa-thục tương tự. Đề nghị được chấp  thuận và sau một hồi bàn xét, tên <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục </strong>được  lựa chọn, mục đích được vạch rõ : khai trí cho dân. Đại cương đã vạch  rồi, ít lâu sau các cụ tới hội để tổ chức nghĩa-thục và phân phối công  việc. Lần này vắng mặt cụ Tăng [Bạt Hổ] và cụ Sào Nam [Phan Bội Châu],  nhưng thêm nhiều nhà nho khác như Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn  Hải Thần… và vài nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn  Bá Học… Hết thẩy đều cử cụ Lương Văn Can làm thục trưởng… Các cụ Nguyễn  Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn tự đảm nhiệm việc xin giấy phép mở trường và tức  thì thảo đơn gửi Phủ Thống Sứ…</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo Nguyễn Hiến Lê, <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục </strong>được  mở ra vào năm 1906 này là sự phân công giữa các nhà làm Cách Mạng, một  số chủ trương bạo động, một số làm cách mạng văn hóa qua một chính sách  được gọi là duy tân. Nghĩa-thục muốn đào tạo một lớp người mới không  những chỉ bằng những lớp dạy những môn học mới như địa dư, toán học… mà  còn cử người soạn sạch mới, soạn bài ca ái quốc, đi diễn thuyết để  truyền bá tư tưởng mới. Ngoài những phong trào vận động cắt tóc, bỏ  nhuộm răng, mặc âu phục, nghĩa thục còn phá bỏ cái tục khinh công thương  nên lúc đó đã chủ trương chấn hưng công thương. Cụ Phan Chu Trinh là  người đầu tiên chấn hưng thương nghiệp, mở <strong>QUẢNG NAM THƯƠNG HỘI</strong>,  mướn người dệt vải nội hoá. Nghĩa Thục cũng còn khuyến khích việc  khuếch trương nông nghiệp, khai thác quặng mỏ nữa… Cũng cần nói thêm  rằng phong trào nghĩa thục này đưa tới vụ âm mưu đầu độc người Pháp ở Hà  Nội và <em>Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn đã bị bắt, dẫn vào Hà Đông </em>(trang 121, ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC – Nguyễn Hiến Lê).</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/namphong.jpg" alt="" /><br />
Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh và Nguyễn văn Vĩnh<br />
Được Chính Phủ Bảo Hộ mời đi dự Đấu Sảo ở Marseille<br />
Ảnh chụp tại Paris, năm 1922,</p>
<p>Như vậy là nhờ tham gia <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục</strong> bố tôi nhìn thấy kẻ sĩ phải thoát ra khỏi giấc mộng hư văn để bước vào đường khai thương. Cùng là đồng chí với bố tôi trong <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục</strong>,  ông Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhìn thấy đâu là quyền lợi của dân tộc. Ông  cũng bỏ cả sự nghiệp văn chương và báo chí để đi tìm mỏ vàng ở bên Lào  rồi cũng chết đi cùng với giấc mộng kinh tế của mình. Hai nhà văn nhà  báo này khi trở thành những Nghị Viên của thành phố là đã nhẩy ra làm  chính trị để bênh vực quyền lợi quốc dân. Cả hai đều đã sớm nhìn thấy  kinh tế mới là sức mạnh. Được cử đi dự Đấu Xảo ở Pháp (Exposition de  Marseille — 1922) thì lại càng nhìn thấy rõ hơn sức mạnh đó. Làm báo,  viết văn hay hoạt động chính trị nghĩa là khai trí chưa đủ. Còn phải  khai thương nữa.</p>
<p>Quả rằng cả hai ông đều là những người vừa can đảm vừa ngây thơ. Can  đảm ở chỗ dám làm chứ không phải chỉ dám nói, dám viết. Khuyến khích  người Việt làm kinh tế qua những bài diễn văn hay qua những bài viết  trên báo chưa đủ, phải tự mình nhẩy vào đấu trường. Ngây thơ ở chỗ nhẩy  ngang vào thương trường mà không có vốn, không có học lực về thương mại.  Người Pháp lúc đó chỉ muốn đào tạo cho người Việt trở thành những người  thông ngôn, họ đâu có muốn đào tạo những người làm kinh tế ? Không có  vốn thì phải đi vay nợ. Hai hay ba bốn người không có kinh nghiệm thương  mại, không có vốn liếng thì làm sao cạnh tranh nổi với Hoa Kiều ? Thất  bại là con cháu phải gánh lấy nợ nần. Bây giờ thì tôi nhìn thấy thái độ  vừa hùng tráng vừa bi thảm của hai kẻ sĩ muốn trở thành thương gia để  xây dựng đất nước, thái độ này đáng lẽ ra phải được nhắc tới trong bài  viết mới gần đây của thuyết gia Hoàng Văn Chí, nói về sự khiếm khuyết  của giới thương ở nước ta, mới chỉ có sĩ, công và nông mà thôi !</p>
<p>Bao nhiêu năm đã trôi qua kể từ khi có bài học của hai ông Vĩnh và  Tốn. Nhưng tại nước Việt Nam, qua nhiều chế độ, vẫn chưa có nhiều nhà  kinh doanh lớn. Dưới thời Pháp thuộc, Hoa Kiều ở Việt Nam nắm nghề buôn  là chuyện dĩ nhiên. Nhưng sau khi nước Việt Nam giành được độc lập và bị  chia đôi vào năm 1954, tại miền Nam, dưới hai chính phủ Việt Nam Cộng  Hoà, người Tầu vẫn còn nắm việc kinh doanh dù chính phủ Ngô Đình Diệm  cấm không cho họ làm 18 thứ nghề. Và kể từ 1975 cho tới bây giờ (1989)  ngay trong cộng đồng người Việt ở rải rác khắp nơi trên thế giới, nghề  buôn bán tiêu biểu là các dịch vụ ngân hàng, nhà đất và thực phẩm Á  Đông, hình như vẫn còn nằm trong tay người Tầu cũng từ Việt Nam ra đi  ”tị nạn chính trị” ! Ở trong nước, Cộng Sản thành công về quân sự, chính  trị. Họ hoàn toàn thất bại về kinh tế.</p>
<p>Bố tôi gặp khó khăn trong việc khai thương nhưng bù lại, bố tôi không  bị trở ngại trong văn chương. Trước hết, ông viết những đoản thiên tiểu  thuyết như<strong>Sống Chết Mặc Bay, Con Người Sở Khanh, Nước Đời Lắm Nỗi… </strong>(đăng  trên báo NAM PHONG, các số 18, 20, 23). Các nhà biên khảo như Dương  Quảng Hàm, Nguyễn Văn Cổn,Vũ Ngọc Phan đều cho bố tôi là <em>nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học cận đại.</em>Một truyện rất ngắn như <strong>Câu Chuyện Thương Tâm </strong>đã khiến cho phê bình gia Thanh Lãng, sau khi gọi bố tôi là <em>ông tổ của phong trào tiểu thuyết,</em>viết thêm : <em>Phạm  Duy Tốn có một xu hướng xã hội rõ rệt : ông đứng về phía những người  yếu đuối, bị bóc lột; ông đứng về phía ông cụ già kéo xe để chống lại bà  phì nộn ngồi trên xe, ông bênh vực bọn dân đen sống nheo nhóc trên bờ  đê Yên Phụ để phản đối thái độ vô nhân đạo của bổn quan lại ngồi trong  sòng bạc.</em></p>
<p>Bài <strong>May Cho Ta </strong>ca tụng một cách xỏ xiên người Pháp. Bố tôi viết rằng : <em>người  Pháp qua nước ta… vì văn minh nên chỉ ăn bánh mì thôi, chớ chi mà người  Nhật, người Tầu (vốn ăn cơm) đến bảo hộ dân mình thì cả nước chết đói.  Thật là may cho ta quá !</em></p>
<p>Loại hài văn của nhà văn Phạm Duy Tốn sẽ không còn tế nhị như thế nữa khi ông kể truyện tiếu lâm.</p>
<p>Sau loại đoản thiên tiểu thuyết, bố tôi ghi chép và phóng tác những truyện cười bình dân. Truyện <strong>tiếu lâm An Nam</strong> dùng tiếng cười để phê bình xã hội hơn là dùng tiếng khóc. Bố tôi đem  chuyện tục và khôi hài ra để răn đời. Căn nhà thấp bé ở phố hàng Dầu có  một cái gác nhỏ đầy bụi bậm mà trong thời thơ ấu, tôi chỉ dám leo lên  lục lọi có một đôi lần. Lần đầu vớ phải một cái đầu lâu ! ! ! Tôi sợ quá  muốn ngất đi… Chủ nhân của cái sọ người đó là ông anh họ Nguyễn Ấu Thìn  có thời ở trọ nhà tôi để theo học Trường Y Khoa. Mọi người trong nhà đã  quên không đem chôn đồ vật thí nghiệm của anh sinh viên bác sĩ sau khi  anh Thìn tốt nghiệp và không còn ở chung với chúng tôi nữa.</p>
<p>Trong một lần lục lọi khác, tôi tìm thấy một tập bản thảo mà giấy đã  ngả sang mầu vàng có ghi lại một số chuyện tục hay quá. Tác giả là Thọ  An. Vội đem xuống hỏi mẹ : <em><br />
– Mẹ ơi ! Thọ An là ai hả mẹ ?<br />
</em>Mẹ nói :<br />
<em>– Là bố mày chứ còn ai nữa !</em></p>
<p>Về sau, tôi được anh Vương Hồng Sển tặng cho bản sao của 2 tập <strong>TIẾU LÂM AN NAM</strong>,  tôi hiểu rõ hơn sự nghiệp của bố tôi. Truyện tiếu lâm là sự phản ứng  của nhân dân đối với các hạng người trong bộ máy cai trị như quan huyện,  lãnh binh, thầy đề v.v…</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/book.jpg" alt="" />Lúc còn bé, tôi thường được nghe câu thơ bình dân chỉ trích quan lại :</p>
<p><em>Kể truyện ông Huyện về quê<br />
Có hai hòn dái kéo lê cùng đường<br />
Bà Huyện tưởng hai hòn vàng<br />
Đánh trống đánh mõ cả làng ra khiêng.</em><em> </em>Tôi đã không sợ nói tục, lại còn thích nghe kể truyện tục. Làm sao mà tôi không khoái trí khi đọc một truyện tiếu lâm như<strong> Úm Ba La Ba Ta Cùng Khỏi</strong>trong  đó cái dâm đã được nói tới công khai ? Thích đến độ sẽ phổ nhạc truyện  tiếu lâm đó thành bài tục ca số 4. Và phục bố mình, vào thời dư luận vẫn  còn rất khắt khe, đã không sợ mang tiếng khi kể những truyện tục, như  truyện đặt tên cho con cái sau đây :</p>
<p>Ở Bắc Việt có cái tục đặt cho con những cái tên xấu vì các bậc cha mẹ  tin rằng tên đặt cho con càng xấu, càng dơ thì tử thần càng chê, do đó  con không chết yểu… như đặt tên con trai là thằng Cu, thằng Cò, thằng  Cứt và con gái là cái Hĩm, cái Trôn, cái Đái. Vì thế có câu chuyện này :<br />
Trong một gia đình theo tục lệ đặt tên xấu cho con, một hôm bố gọi con :<br />
<em>– Cứt ơi ! Về ăn cơm<br />
</em>Em thằng Cứt trả lời :<br />
<em>– Anh Cứt còn đi ỉa !</em></p>
<p><em> </em>Ngoài truyện tục (mà tôi không dám kể ra đây), trong sách  tiếu lâm, bố tôi hay diễu cợt những người tự phụ làm thơ hay. Khi phê  bình bài thơ dở, người ta thường gọi đó là thơ con cóc. Chắc người ta đã  dựa vào truyện tiếu lâm này :</p>
<p>Có ba anh học trò thường tự phụ là thơ hay, vẫn thường than thở với  nhau sợ chết non vì mạng tài tương đố. Một hôm, cả ba cùng đi với một  tiểu đồng vào vãng cảnh chùa kia. Dở rượu ra uống, ba thày xúc cảnh sinh  tình, muốn làm thơ thì vừa vặn có một con cóc nhẩy ra…<br />
Thầy thứ nhất xuất khẩu :</p>
<p><em>Con cóc nhẩy ra<br />
</em>Thầy thứ hai :<br />
<em> </em><em><br />
Con cóc nhẩy vô<br />
</em>Thầy thứ ba :<br />
<em> </em><em>Con cóc ngồi đó</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tên tiểu đồng cũng xin lạm phần một câu :<br />
<em>Con cóc nhẩy đi</em></p>
<p>Rồi cả ba thày cùng lăn ra khóc, sợ thơ mình hay như thế thì trời đất  ghen ghét chết non. Họ sai tiểu đồng đi mua ba cái quan tài để ngộ nếu  có chết thì có cái mà chôn và không quên bảo tiểu đồng mua cái áo quan  thứ tư cho nó, vì thơ nó cũng hay, sợ cũng cùng chung số phận. Vào lúc  đó sư cụ trong chùa nghe thấy chuyện như thế cũng móc túi lấy tiền đưa  cho tên tiểu đồng :<br />
<em>– Mày mua cho tao một cái quan tài thứ năm.<br />
– ?…<br />
– Là vì tao có lời thề nguyền : Ở trên đời này, ông mà thấy được một  chuyện nực cười nhất thế gian thì ông xin chết. Bây giờ việc đó hiển  nhiên rồi, tao còn sống làm sao được ?<br />
</em><br />
Trong truyện ”rừng cười” này, tôi thấy luôn luôn có sự châm biếm các thi  sĩ nửa mùa như vậy. Một truyện khác : Có một ông quan võ thích làm thơ  lắm. Một hôm, nhìn thấy con chó đi qua, ông nổi hứng ứng khẩu bài thơ :<br />
<em>Chẳng phải voi mà chẳng phải trâu<br />
Ấy là con chó cắn gâu gâu<br />
Khi nằm với vợ thì lại đứng<br />
Cả đời không ăn một miếng trầu…</em><br />
Anh láng giềng nịnh bợ thường được ông quan võ cho ăn uống linh đình mỗi  khi anh ta khen thơ của thi sĩ nhà binh, vội vàng xin hoạ theo :<br />
<em> </em><em>Quanh quanh đường đít lại đường đầu<br />
Hễ thấy ai vào cắn gâu gâu<br />
Ăn hết của thơm cùng của thối<br />
Trăm năm chẳng được chén trà tầu…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Cũng bởi vì có một ông bố nghiêm khắc như vậy cho nên trong đời tôi  có những khi tôi nổi hứng định làm thi sĩ thì tôi vội vàng bỏ ý định đó  ngay. Chỉ sợ ông bố đội mồ sống dậy đưa mình vào truyện tiếu lâm !</p>
<p>Con người có tinh thần hài hước rất cao như vậy, trong cuộc đời rất  thanh bần và nhất là vào lúc mắc phải bệnh ho lao và đang nằm chờ chết,  đã được<strong>Thực Nghiệp Dân Báo</strong> vẽ chân dung một lần chót qua bài báo tin buồn :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*"><em>… Ông thiên tính  khẳng khái trực triệt, đối với đồng bào tổ quốc ông chan chứa tấm nhiệt  thành, tuy vì buổi đời đen bạc, con tạo đành hanh, làm cho ông nhiều  phen gian nan nguy hiểm, lại bó buộc vì một chữ nghèo song cái nhiệt  thành ông không khi nào nguội, cái khí khái ông không lúc nào lùi, kim  tiền và thế lực ông khinh như cỏ rác vậy. Ông thường nói : Ôi nghèo thì  nghèo chứ không khi nào đem chữ ái quốc làm món hàng buôn. Mấy tháng  trước, anh em vào thăm ông, da xanh nhợt, vóc gầy như mai, đầu hoa lốm  đốm, hơi thở hổn hển mà mắt vẫn sáng như sao mai, miệng vẫn tươi như hoa  nở, khoa chân khoa tay nói chuyện quốc kế nhân sinh, nhân tình thế  thái.<br />
Hỏi đến bệnh thì ông cười nói rằng : Chỉ có một chết, chứ còn gì nữa.  Tôi đã biết chết từ mấy năm trước. Nhưng tôi, cái chết tôi không mong mà  cũng không sợ, cơm ăn thì ăn, thuốc uống thì uống, nó chết bao giờ thì  nó chết. Nghe những câu ông nói đủ biết cái tinh thần ông không hề mỏi  mệt, mà cái khí khái, cái nhiệt thành của ông thực có chỗ hơn người vậy.  Vì thế nên ông phát ra văn chương cũng sốt sắng và hùng kính khác  thường. Ông không có những văn phóng phiếm phù hoa, đối đáp tiểu xảo,  nhời kêu mà ý tưởng chẳng có gì.<br />
Nay rở những bài của ông trong các báo mà xem, nhiều bài còn thấy nhiệt  huyết lâm ly, cái tính cách lăng tằng (1) hình như dũng dược (2) ở trên  tờ giấy…</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Cũng như những người cùng lứa tuổi,  phải sống cả đời trong một thời tao loạn, khiến mình bị đánh bật gốc ra  khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, rồi lang thang trong nước, rồi lưu vong trên  thế giới… tôi cứ tưởng chỉ có thế hệ tôi mới gặp phải gian nan nguy  hiểm, cuộc đời đen bạc, con tạo đành hanh… Không ngờ bố mình đã ở trong  hoàn cảnh đó rồi ! Nhưng tôi rất vui lòng vì — dù chẳng được bố dạy dỗ  một lần nào — tự thấy mình đã thừa kế được tinh thần của bậc sinh thành  là không phóng phiếm phù hoa trong nghệ thuật, không đưa ra những soạn  phẩm nhời kêu mà ý tưởng chẳng có gì và nhất là không khi nào đem chữ ái  quốc làm món hàng buôn bán.</p>
<p>Ngồi đọc lại một vài đoạn của bài điếu văn xa xưa để viết về thời thơ  ấu của mình, tôi bỗng thương xót bố tôi vô cùng vì bố tôi đã lìa đời  vào lúc còn quá trẻ, mới ngoài 40 tuổi. Tôi xót xa khi thấy việc làm của  ông, chẳng may nước nhà gặp thời ly loạn kéo dài mấy chục năm, chỉ được  nhắc nhở một cách thoáng qua. Chỉ có một số báo tưởng niệm Phạm Duy Tốn  là báo VĂN ra ngày 1-1-71 ở Saigon.</p>
<p>Tôi xót xa nghĩ tới xã hội ngày xưa với những cảnh thương tâm mà bố  tôi đã phác hoạ, rồi nghĩ tới xã hội của thời tôi còn thơ ấu, biết yêu  Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang… cũng vì các vị đàn anh, với  cặp mắt Nguyễn Du, trước những điều trông thấy mà đau đớn lòng, đã tiếp  tục làm công việc phê bình xã hội như bố mình. Nghĩ luôn tới hoàn cảnh  xã hội của thời tôi bước vào đời, gặp gỡ và sống thực sự với rất nhiều  cảnh thương tâm, chứ không còn ngồi yên một chỗ để đọc truyện thương tâm  nữa. Rồi thấy rằng chỉ có một khoảng thời gian 10 năm để cho xã hội  Việt Nam tốt đẹp và lành mạnh vì toàn dân chấp nhận gian khổ, đoàn kết  đánh đuổi thực dân. Tới khi nước nhà bị chia đôi thì ở một miền, bực  thang xã hội được thu tóm trong câu châm ngôn <em>nhất đĩ, nhì cha, ba sư, bốn tướng… </em>người  hùng trong trắng — nếu có — dù đầy thiện chí cũng khó lòng vào ngồi  chung với những kẻ ăn cướp của công được. — một miền khác, chỉ có khẩu  hiệu <em>ra ngõ gặp anh hùng</em> được áp đặt lên đầu toàn dân mà không hề có chủ trương <em>ra ngõ gặp người hiền.</em>Xót  xa cho 20 năm chiến tranh, xã hội Việt Nam băng hoại vì tiền bạc và vũ  khí mà ngoại nhân đổ vào nước ta để ”nhờ” ta giải quyết hộ mâu thuẫn của  cường quốc. Tới khi <em>sạch bóng quân thù</em> và trả giá bằng núi  xương biển máu rồi thì cả nước lâm vào cảnh nghèo khổ, xã hội đã đổ vỡ  lại thêm suy thoái. Tại sao vậy ? Có phải vì thế hệ đi trước không để  lại cho con cháu cái phẩm giá làm người và những trách nhiệm xã hội ? Để  lại cho em này nước non mình ra làm sao mà vào năm 1988 vừa qua người  lãnh đạo phải thốt lên : <em>”Việt Nam đang ở trên bờ vực thẳm ? ”</em></p>
<p>May thay vẫn còn có những văn nghệ sĩ muốn và dám cảnh tỉnh xã hội.  Nhà đạo diễn điện ảnh vác máy quay phim đi tìm người tử tế, tiếp tục sự  đi tìm người chân thật mà một nhà thơ đã nêu lên từ mấy chục năm trước.  Nhà văn hay nhất của thời đại — đối với tôi — qua một số truyện ngắn (đã  gây ra nhiều cuộc tranh luận ở trong nước) tố cáo bộ mặt xấu của chế độ  bao cấp trong xã hội Việt Nam hiện nay. Một nước thực thi chủ nghĩa xã  hội mà lại làm cho xã hội suy thoái nhanh chóng như vậy, thật là đau  lòng ! Đau lòng hơn nữa vì, với những điều trông thấy của cả đời mình,  trước đây có định học mót người cha và những đàn anh văn nghệ, đưa ra  mười bài tâm ca và mười bài tục ca để cống hiến xã hội thì bị ngộ nhận.</p>
<p>Đã 40 năm nay, tôi không được về thăm cái nôi của gia đình họ Phạm.  Không biết nấm mồ bố tôi nằm tại làng Phương Liệt, Hà Đông có còn nguyên  vẹn không, sau bao nhiêu năm chiến tranh. Có một vài độc giả vô danh  nào tới nghiêng mình trước ngôi mộ nhà văn xã hội đầu tiên của nước Việt  Nam không ? Có còn đứa cháu, đứa chít cực kỳ nghèo khổ nào thay mặt  chúng tôi tới thắp nén hương trên mộ ông hay không, khi ông chỉ còn hai  đứa con già nua (tôi và bà chị 80 tuổi) đang sống lạc lõng nơi đất khách  quê người ? Bao giờ tôi được về nước để đứng chắp tay trước ngôi mộ của  người cha mà tôi đã càng ngày càng cảm thấy gần gụi hơn qua những trang  HỔI KÝ này.</p>
<p>Để kết thúc cho Chương Sách viết về người cha mà nếu được sống với  nhau thì tôi phải gọi bằng Cậu và tự xưng là em (cái tục lệ kiêng không  gọi bố con này cũng không ngăn được sự chia lìa sớm sủa của cậu và em)…  xin chép ra đây những lời cuối của bài điếu văn đăng trong <strong>Thực Nghiệp Dân Báo</strong> :</p>
<table>
<tbody>
<tr>
<td width="05%"></td>
<td width="*">…<em> …Ôi ! Núi Nùng  Sông Nhị, khí thiêng đúc lại một người; nước Nhược non Bồng, cõi lạc  trông vời muôn dặm. Văn đành bất hủ, người đã tràng từ, giấy ngắn tình  dài, mây bay nước chẩy ! Ô hô !</em></td>
<td width="05%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Phụ Lục</strong>Năm  1999 và năm 2000, kẻ trước người sau, vợ chồng tôi tìm về chốn quê cha  đất tổ, tuy chúng tôi không tìm ra mộ cha mẹ nhưng chúng tôi được tới  thắp nhang trên ngôi mộ tổ và trong nhà thờ tổ.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/mo_hang.jpg" alt="" />____________________________________<br />
1) lăng tằng = tằng lăng thì đúng hơn, nghĩa là ngang tàng<br />
2) dũng dược = hăng hái</p>
<p><em><strong>Chương Bốn</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<div id="attachment_2820"><img title="me" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/me.jpg?w=214&amp;h=263" alt="" width="214" height="263" />Mẹ, thời còn trẻ</div>
<p><em>Tôi mồ côi cha năm lên hai tuổi<br />
Mẹ tôi thương con nên không lấy chồng……</em></p>
<p><strong><strong>Lời Mẹ Dặn</strong> — Phùng Quán</strong></p>
<p>Bố tôi chết đi để lại một gánh nặng  cho mẹ tôi. Ngoại trừ Anh Khiêm vì học giỏi nên có học bổng của Pháp cho  đi Tây học và không cần đến ai lo lắng, mẹ tôi phải lo liệu để nuôi  sống lũ chúng tôi lúc đó hãy còn thơ dại. Con gái một ông đồ và vợ goá  của một nhà văn thì làm gì có sẵn nghề nghiệp chuyên môn trong tay.</p>
<p>Nhưng rồi cũng giống như hầu hết các  bà mẹ Việt Nam trong xã hội Hà Nội trí thức tiểu tư sản ấy, mẹ tôi đã  khéo xoay xở để nuôi chúng tôi lớn lên. Khi thì mẹ đi các tỉnh miền  thượng du để mua sừng nai, xương cọp đem về nấu thành cao ban long, cao  hổ cốt, bán thẳng cho người mua. Khi thì mẹ mua cả dăm bẩy chục gánh hoa  sen rồi cả nhà ngồi bóc cánh sen lấy nhụy hoa ướp trà, cũng để bán trực  tiếp cho khách hàng. Không hề có một cửa hàng bán cao hay bán trà sen.  Việc bóc cánh hoa sen làm cho anh em chúng tôi rất thú vị vì được nhẩy  nhót hay ngã lăn quay trên đống cánh sen vừa thơm vừa mát. Việc phụ giúp  cho mẹ và các chị nấu cao thì cực lắm. Nấu cao vào buổi trưa mùa hè ở  trong một ngôi nhà thấp lè tè là một cực hình. Cho nên phải nấu vào ban  đêm. Có một lần ai cũng buồn ngủ cả, lửa bén lên mái bếp, xuýt cháy cả  phố.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/pdsmall.jpg" alt="" hspace="15" align="left" /></p>
<p>Nếu đem so sánh với lũ con tôi lúc chúng còn bé thì phải nói rằng tôi  sinh ra là con nhà nghèo. Tuy không đến nỗi phải sống trong cảnh mẹ goá  con côi rất bi thảm nơi đồng quê hay trong cảnh ngộ của những người  thiếu thốn hơn mình nơi đô thị, nhưng cho tới năm 14 tuổi, tôi vẫn phải  quanh năm mặc quần áo ta — trong mấy năm tiểu học, học trò đều phải mặc  áo dài khi đến trường — và phần nhiều là áo rách, áo vá. Tôi không bao  giờ có một thứ đồ chơi nào cả ! Đừng nói chi tới những thứ đồ chơi tầm  thường của hai đứa con út của tôi mười năm trước đây như xe ô tô hay xe  lửa tí hon, búp bê hay ”gi ai giồ” (GI JOE = búp bê lính Mỹ) ngay cả  những đồ chơi nội hoá làm ở phố Hàng Sắt Hà Nội hay những ông tiến sĩ  giấy, những đèn xếp, đèn lồng trong ngày Tết Trung Thu, tôi cũng không  nhớ là đã được mẹ hay được bất cứ một người lớn nào tặng cho anh em tôi.  Toàn là tự tay làm đèn giấy để chơi với nhau. Trong suốt năm, lúc nào  hai anh em tôi cũng ngong ngóng chờ ngày Tết đến vì chỉ vào những ngày  này mới có thêm một bộ quần áo mới và mới được người lớn cho tiền. Mẹ  tôi phải xoay xở vất vả lắm mới có đủ tiền để nuôi con và trả nợ cũ của  bố tôi, thậm chí đã nhiều lần phải gá bạc để có tiền đi chợ. Nói cho  đúng ra, mẹ tôi có hai thứ say mê là đánh bài và đi lễ cho nên cái  chuyện mời bạn bè tới nhà đánh bài để lấy tiền hồ cũng chỉ là chuyện tự  nhiên.</p>
<p>Không giầu để có thể luôn luôn mua đồ chơi hay may quần áo mới cho  anh em tôi, mẹ tôi chỉ có thể biểu lộ tình thương yêu đối với đứa con út  bằng cách cho tôi theo mẹ trong bất cứ một cuộc đi lễ xa gần nào. Tôi  được đi lễ ở nhiều đền chùa nổi danh miền Bắc như Chùa Hương, Chùa Trầm,  Đền Sòng Phố Cát… Cảnh đẹp của những ngôi chùa cổ làm tôi muốn trở  thành một con người hiếu đạo. Thật thế, chùa chiền rất cần khung cảnh  chung quanh để tạo cho ta sự thoát tục sau khi phải sống cuộc đời đầy  bụi bậm. Tiếc rằng sau này tôi không tìm lại được sự rung cảm kỳ diệu đó  ở những đền chùa quá ư ”văn minh” tại miền Nam.</p>
<p>Từ lúc còn rất bé, không những được đi lễ với mẹ luôn luôn, tôi còn được mẹ tôi dạy tụng những câu kinh Phật : <em>”… Lư hương xạ nhiệt pháp giới mông vân chư phật hải hội… ” </em>Tôi lại là thằng bé không thích ăn thịt hay chấm nước mắm, nhiều khi chỉ ăn cơm với oản, với chuối cho nên ngoài cái tên <em>thằng tôm, </em>tôi còn có thêm cái tên là <em>chú tiểu. </em>Bây  giờ về già nếu cần phải nhớ tới một trong những mối sầu lâng lâng đầu  tiên của đời mình thì tôi phải nói tới buổi trưa hè trên một nẻo đường  cái quan…</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/xekeo2.jpg" alt="" hspace="10" align="right" /></p>
<p>… Sau khi đi lễ ở một ngôi chùa nào đó, hai mẹ con tôi ngồi ôm nhau  trên chiếc xe kéo bánh gỗ đưa chúng tôi về Hà Nội, anh phu xe nhễ nhại  mồ hôi, con đường vắng tanh vắng ngắt, hai bên đồng lúa im phăng phắc,  thời gian như ngừng trôi… Hình ảnh êm đềm và bâng khuâng này giống như  một âm bản tuyệt vời của tuổi thơ đặt vào trong một cái máy thu hình là  trí nhớ của tôi để mỗi khi muốn nhớ tới mẹ là tôi đem rửa ra thành một  tấm dương bản. Lại cũng còn có thêm một âm bản khác, dữ dội hơn, với  hình ảnh hai mẹ con đi lễ trong khi trời đang giông bão, có cột đèn đổ,  có cây gẫy cành chắn ngang đường đi… Người ta thường nhớ tới cha mẹ  trong cảnh gia đình đầm ấm — tôi cũng đã từng nói tới — với hình ảnh cha  ngồi xem báo, mẹ ngồi khâu áo, xa xa có tiếng còi tầu v.v… Tôi thường  chỉ nhớ mẹ tôi trong kỷ niệm của những cuộc đi lễ xa xưa như vậy.</p>
<p>Tất cả các bà mẹ trên thế gian đều là mẹ hiền cả, nhưng mẹ tôi,  Nguyễn Thị Hoà, là người mẹ hiền hoà nhất. Không bao giờ đánh mắng tôi  cả. Mỗi khi tôi làm điều trái thì mẹ kể cho nghe một câu truyện cổ răn  đời. Truyện Thằng Cuội hay truyện Lục Súc Tranh Công. Hoặc dạy tôi bằng  những câu châm ngôn, ca dao, tục ngữ : <em>Trông người phải gẫm đến ta thử sờ lên gáy xem xa hay gần…</em></p>
<p>Là con một ông đồ, mẹ tôi cũng đã làm thơ. Tôi chỉ nhớ mang máng qua  một câu thơ yết hậu, mẹ tôi kể truyện chú tiểu ăn trộm oản khi nhìn thấy  ông sư ve bà vãi. Chữ nghĩa mà mấy anh em chúng tôi có được, từ Khiêm  qua Nhượng tới tôi, không hẳn chỉ từ người cha Phạm Duy Tốn. Tấm lòng  thì chắc chắn phải từ mẹ mà ra. Trong đời, đôi khi tôi là người tốt  bụng, đó là lúc tôi nhớ tới mẹ tôi. Cử chỉ khoan thai, đi đứng từ tốn,  nói năng nhẹ nhàng, không bao giờ mẹ tôi có những hành động quá đáng.  Vui vừa đủ khi ù một ván tổ tôm. Buồn kín đáo khi ngồi im lặng cả ngày  trước cỗ bài để phá trận. Lúc nào cũng lo lắng về những món nợ cũ của bố  tôi. Chủ nợ là người không giầu có cho lắm, không tháng nào mẹ tôi chậm  trả nợ.</p>
<p>Tuy nghèo nhưng mẹ là người rất rộng rãi. Nhà tôi luôn luôn có những  người không phải họ hàng tới trọ. Ở lâu đến độ trở thành người trong gia  đình luôn. Tôi vừa lớn lên là đã thấy một ông già gầy gò móm mém, có  cái tên là ông Cả Bịp, lúc nào cũng mặc áo dài, sống luẩn quẩn trong  nhà. Giang sơn của ông là một trong sáu cái giường trong nhà. Tài sản  của ông là cái tráp và cái gối gấp, ông hay dựa vào đó để ngồi tụng  kinh. Công việc của ông chỉ có thế ! Ông không hề phải làm bất cứ việc  nào khác hơn là tối tối thắp hương cúng Phật. Tôi cũng được ông dạy tụng  kinh. Sinh ra trong một gia đình thờ Phật nhưng tôi không phải là kẻ  sùng đạo. Hay là đệ tử cuồng tín của một đạo giáo. Lớn lên, tôi hiểu  được cái hay của <em>tam giáo đồng nguyên</em> trong mỗi chúng ta : lúc  còn bé, đạo Phật dạy ta biết chuyện muôn ngàn thế giới, lớn lên đạo  Khổng dạy ta phép sống trong xã hội, về già đạo Lão dạy ta sự vô hư.</p>
<p>Ông Cả Bịp có người con tên là Tường, làm phu cạo mủ cao su trong  Nam. Lúc còn bé, tôi được người lớn cho biết hai chuyện ghê gớm : chuyện  mẹ mìn bắt trẻ con đem sang Tầu bán và chuyện Tây ”bắt cóc” người đem  đi làm phu ở Nam Kỳ hay ở Tân Thế Giới (Nouvelle Calédonie, thuộc địa  của Pháp). Bị bắt cóc hay nói cho đúng hơn là bị ông Tây mộ phu lừa lọc,  phải làm việc rất nặng nhọc, bị bóc lột một cách tàn nhẫn, phải sống ở  nơi sơn lam chướng khí… rất ít phu đồn điền cao su còn sống để trở về  quê quán. Và tôi thấy được cái thảm hại trên con người từ đồn điền cao  su trở về là anh Tường. Con ông Cả Bịp về Hà Nội với thân tàn ma dại,  với đôi mắt lờ đờ của người nghiện rượu, với đôi bàn tay trắng và cũng  chẳng còn sống thêm được bao nhiêu năm nữa. Khi lớn lên tôi mới thấy  thương anh Tường. Lúc còn bé tôi nhìn anh như một tay anh hùng hảo hớn,  dám sống, dám chết, vì được anh cho coi những vết sẹo trên người và nghe  anh kể lại những ngày ở trong rừng cao su, đụng nhau với đủ mọi thứ anh  chị trên đời. Cũng chính anh đã đem vào trí tưởng tượng của tôi hình  ảnh một Nam Kỳ xa lắc xa lơ mà người Bắc Kỳ nào cũng mơ ước có ngày được  phiêu lưu vào nơi đó ! Và tới ngày tôi nghe tin ông Tây mộ phu nổi danh  ở Hà Nội là Bazin bị ám sát thì tôi cảm thấy như anh Tường, con ông Cả  Bịp đã được trả thù.</p>
<p>Năm 1930 cũng là năm đầu tiên của sự khủng hoảng về kinh tế ở Hoa Kỳ,  kéo theo sự khủng hoảng mọi nơi trên thế giới. Ở Việt Nam và trong xã  hội trung lưu Hà Nội, ảnh hưởng của nó cũng chẳng là bao vì làm gì có  một nền kinh tế lớn lao tại thủ đô miền Bắc này. Tuy nhiên cũng có đôi  ba người thất cơ lỡ vận và mẹ tôi đã cho bà Ấm Chung và bà Tư Hưng Yên  tới tá túc tại nhà chúng tôi. Bà Ấm Chung mở lớp dạy đàn tranh, có lèo  tèo dăm bẩy học trò trong đó có hai chị của tôi. Bà Tư thì cùng mẹ tôi  bổ cau, phơi khô đem ra chợ bán.Về sau tôi cũng thừa kế tính rộng rãi  của mẹ. Trong đời tôi, đã có nhiều lúc tôi mở rộng cánh tay ra, như mẹ  yêu đã làm trong dĩ vãng.</p>
<p>Không phải vì thương con nên không lấy chồng như bà mẹ Phùng Quán trong bài thơ <strong>Lời Mẹ Dặn, </strong>xã  hội thị thành lúc đó không cho phép người goá phụ còn trẻ là mẹ tôi  bước đi bước nữa. Trong khu phố tôi, cũng không thấy có goá phụ nào tái  giá cả. Ngay cả người vú sữa mà tôi coi như người mẹ thứ hai cũng là  người lâm cảnh góa bụa và cũng ở vậy suốt đời dù vú không thuộc giai cấp  trung lưu Hà Nội.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/me_cuudoi.jpg" alt="" /><br />
Năm có nạn đói, Mẹ đi phát chẩn gạo…Vì  mẹ tôi phải lo toan cho cuộc sống gia đình nên tôi được khoán trắng cho  chị vú sữa để chị nuôi nấng tôi từ lúc lọt lòng cho đến khi tôi 6 tuổi.  Tôi sống gần vú hơn là gần mẹ, do đó tới ngày tôi lớn và không cần tới  sự săn sóc của vú nữa, vú phải trở về quê thì tôi nhất định không cho vú  đi. Tôi khóc và lăn mình dẫy dụa trên đường cái. Mẹ tôi thương con nên  dỗ ngọt nhưng Thầy Kim lôi vào nhà đánh cho một trận đòn khá nặng.</p>
<p>Thầy Kim đây là Trần Trọng Kim, nhà viết sử và vị Thủ Tướng sau này  của Việt Nam. Từ khi bố tôi chết đi — là lúc tôi lên 2 — cho tới khi tôi  14 tuổi — là lúc Ông Khiêm đã đậu xong bằng Thạc Sĩ và đã trở về nhà —  ông Trần Trọng Kim, vốn là bạn thân của bố tôi, trở thành một thứ bố đỡ  đầu của chúng tôi. Chúng tôi phải gọi bằng Thầy (danh từ này không hẳn  chỉ có nghĩa là Thầy Giáo mà còn có nghĩa là Thầy Mẹ) và mỗi tuần, Thầy  Kim đều tới nhà tôi một hay hai lần để coi sóc chúng tôi.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/ttkim.jpg" alt="" hspace="10" align="right" /></p>
<p>(Ảnh bên : Thầy Kim, lúc về già)</p>
<p>Thầy Trần Trọng Kim không có con trai nên hai anh em tôi được thầy  năng tới chăm sóc. Tôi kính trọng Thầy nhưng thấy Thầy không thay thế  được bố mình. Nhiều khi có những bạn cũ của bố tôi như các ông Bùi Kỷ,  Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục… tới chơi với Thầy Kim thì có ngay một  cuộc đánh chắn hay đánh tổ tôm với mẹ tôi. Tôi và các anh chị tôi tranh  nhau chia bài để lấy mấy chục xu tiền thưởng.</p>
<p>Tôi còn nhớ giọng nói sang sảng của ông Bùi Kỷ, cái tính hay bẹo má  chúng tôi của ông Nguyễn Văn Vĩnh và lòng bàn tay đỏ như son của Thầy  Trần Trọng Kim. Mầu đỏ rực của lòng bàn tay này, cái tướng của những  người cai trị dân, tôi cũng thấy có nơi lãnh tụ Cộng Sản Trường Chinh mà  tôi gặp ở Thái Nguyên vào năm 1946. Thầy Kim lúc đó làm Thanh Tra Tiểu  Học và tuần nào cũng tới nhà tôi trước khi ra toà nhà Khai Trí Tiến Đức  để cùng với một số các vị khác hợp soạn cuốn <strong>Việt Nam Tự Điển</strong>.  Khi đó tôi đã qua tuổi lên 10 và tôi hay đánh cờ tướng với Thầy, có  những ván cờ tôi thắng Thầy mới là hay chứ ! Kỷ niệm khó quên nhất là  năm tôi học lớp Nhất trường Hàng Vôi, sắp tới ngày thi tốt nghiệp Tiểu  Học, trong cuộc đánh nhau với một thằng bạn (tên là Doãn thì phải), tôi  đã dùng bút để đâm vào tay nó khiến cho tay nó sưng vù lên và suýt nữa  nó không đi thi được. Nếu không có Thầy Kim thì tôi đã bị đuổi ra khỏi  trường rồi !</p>
<p>Vì là con út, lại mồ côi cha nên tôi là con cưng của mẹ. Khi tôi lên 6  và vú tôi trở về quê thì từ đó tôi được ngủ chung với mẹ. Cho tới khi  tôi 14 tuổi, tôi vẫn còn được ngủ chung với mẹ. Lúc còn rất bé, sáng nào  cũng nằm hay ngồi trong chăn để nhìn mẹ pha trà tầu, hơ chén nước nóng  lên mắt cho hạ hoả, uống trà và… cãi nhau với vú già. Tội nghiệp, vú già  đần độn và bướng bỉnh vô cùng, sáng nào cũng có một cái lỗi lầm nào đó  để nghe mẹ tôi mắng mỏ rồi hai bên cãi nhau như hai chị em vậy. Vú già ở  trong gia đình tôi gần như suốt đời nên sự to tiếng không bao giờ dữ  dội cả. Tôi còn thấy vui vui là khác. Vì được mẹ nuông chiều, tôi về bè  với mẹ và đôi khi tôi cũng nói nhảm với vú già, nhưng đối với vú nuôi  thì tôi lại yêu quý vô cùng, có lẽ cũng còn do ở tính tình của vú nữa.</p>
<p>Đây là một người đàn bà nhà quê điển hình của miền Bắc lúc bấy giờ,  nghèo mạt rệp, lấy chồng làm lính lệ, vừa có con mọn thì chồng chết, gửi  con cho mẹ chồng và em chồng rồi ra tỉnh thành đem bầu sữa nóng của  mình nuôi con người khác. Không ngu đần hay bướng bỉnh như vú già, trái  lại, rất nhanh nhẹn, rất chịu khó, rất thông minh, trên môi lúc nào cũng  có một nụ cười ngượng nghịu, ai khen cũng cười, ai chửi cũng cười. Đúng  như Nguyễn Văn Vĩnh đã viết : người Việt Nam mình, cái gì cũng cười.  Bụng dạ vú Cẩn rất tốt. Nhiều khi thấy mẹ tôi tôi túng thiếu, vú mở hầu  bao ra lấy tiền cho mẹ tôi mượn.</p>
<p>Anh Nhượng cũng có một người vú nuôi, nhưng vú Nhượng đến rồi đi như  một cái bóng, còn vú Cẩn thì sau khi thôi việc vẫn còn luôn luôn đi lại  trong gia đình tôi như một người thân, có lần ở với chúng tôi gần một  năm với tư cách vú già trước khi vú chết trong thời Nhật tới chiếm Đông  Dương, khi đó tôi đã 19 hay 20 tuổi. Từ khi vú bỏ tôi về quê, tôi đã  nhiều lần được về sống với vú và con vú là thằng Cương ở một ngôi làng  gần Trạm Chôi thuộc tỉnh Sơn Tây. Lúc đó tôi đi học rồi và qua những bài  tập đọc bằng văn suôi hay văn vần trong cuốn <strong>QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ</strong>, tôi được dạy dỗ để biết yêu đồng quê Việt Nam như thế nào rồi ! Hãy giở những cuốn sách học vỡ lòng đó ra mà coi. Cuốn <strong>Quốc Văn Giáo Khoa Thư — Lớp Đồng Ấu</strong> có 55 bài tập đọc thì có tới gần 10 bài tả cảnh đồng quê. Em bé thị  thành như tôi vào tuổi lên 9 mà lại học về cầy cấy, gieo mạ, gặt lúa.  Học bài con người nói chuyện với con trâu bằng thơ. Hay học nghề làm  ruộng :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Trâu ơi ta bảo trâu này<br />
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta<br />
Rủ nhau đi cấy đi cầy<br />
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu…</em>Học về đồng ruộng nhiều hơn là  học về vỉa hè, tôi lại có may mắn được về sống với vú tôi tại Trạm Trôi  vào lúc tâm hồn tôi còn trong trắng, tôi biết được cái khổ hay cái sướng  của một em bé quê ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót  trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ… để mấy chục năm sau có  bài dân ca mới :<br />
<em> </em><em>Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau<br />
Và miệng hát nghêu ngao…</em><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/dongque.jpg" alt="" /><br />
Đồng quê ơi…Gia đình vú sống  trong một nhà tranh vách đất thấp bé và tối tăm. Trong nhà không có bàn  ghế, không có cả cái giường (kể cả giường nan), làm sao có được cái bàn  thờ như ở số nhà 54 phố Hàng Dầu ? Nhưng cũng có một cái bát hương đặt ở  một xó nhà. Đêm đêm tôi ôm vú hay thằng Cương nằm ngủ trong ổ rơm, sáng  dậy ra sân xúc miệng và rửa mặt bằng tay bên cái chum nước đã vỡ miệng.  Vạch quần ra định đái thì cả nhà kêu thất thanh : <em>” Đái vào cái nồi đất… để còn tưới rau”… </em>Cơm  ăn là gạo hẩm. Món ăn là bát rau muống luộc, hiếm hoi mới có ngày ăn  cơm với vài ba quả cà hay một đĩa tép. Cũng không sao, vì thuở bé, tôi  rất dễ ăn.</p>
<p>Chắc chắn đời sống của dân quê dưới thời Pháp thuộc rất là cực khổ  nhưng lúc đó tôi mới lên 9 lên 10, xin cho tôi chỉ nhìn cái đẹp của đời  sống thôn ổ. Khi lớn lên, tôi sẽ biết cảnh dân quê nghèo khó tới mức nào  và bị áp bức bởi cả thực dân và quan lại ra sao qua những tác phẩm văn  chương của Trần Tiêu (<strong>CON TRÂU</strong>) hay Hoàng Đạo (<strong>BÙN LẦY NƯỚC ĐỌNG</strong>)…  Nhất là khi tôi trở thành một nông dân bán-chính thức ở vùng Yên Thế.  Được sống hẳn hòi ở nơi thôn ổ nên tôi cảm thông với tình cảnh của đa số  dân chúng. Tôi sẽ nhanh chóng có hành động tích cực của một công dân  yêu nước thương nòi. Tôi sẽ dễ dàng đi kháng chiến cùng với mọi người.  Nếu chỉ ở Hà Nội và ngồi đọc sách không thôi, chưa chắc tôi đã tích cực  như thế. Rồi khi trở thành nghệ sĩ thì có ngay lập trường rõ rệt là biết  cúi đầu trước những niềm vui nỗi buồn của nhân dân, đa số là dân quê,  để sáng tác. Nếu trong thời thơ ấu và khi mấp mé vào đời tôi không về  sống ở đồng quê, chưa chắc tôi đã bén nhạy trước cảnh cô nàng <em>gánh lúa cho anh ra đi diệt thù </em>hay cảnh bà mẹ quê <em>cuốc đất trồng khoai </em>ở  vùng Bình Trị Thiên. Chưa chắc tôi đã ở lại với dân ca sau khi — cũng  như đa số các nhạc sĩ trẻ tuổi — bị hấp dẫn bởi sự đồ sộ của nhạc Âu Tây  dù cổ điển hay tân kỳ.</p>
<p>Tôi biết ơn những ngày được sống trong thôn ổ khi tâm hồn mình còn ngây thơ và trong trắng. Hình ảnh <em>ruộng lúa xanh rì, đường làng hun hút, lũy tre bát ngát, cây đa bóng rợp, ngôi chùa tư lự… </em>tất  cả đã in sâu vào trí óc tôi để sau này khi cần phải phác hoạ cảnh đồng  quê qua những bài dân ca mới, tôi không phải khó nhọc gì cả. Là người  sống bằng tưởng tượng nên tôi cứ cho rằng cảnh vật cũng rất yêu tôi vì  lẽ giản dị là tôi yêu cảnh vật ở đồng quê vô cùng.</p>
<p>Thằng Cương yêu tôi là chuyện tất nhiên. Có tôi nó hết bơ vơ. Hai anh  em dắt nhau đi thả diều, đi câu cá. Thú nhất là đi bắt châu chấu rồi  đem về rang với muối để ăn một cách ngon lành. Chúng tôi chia nhau từng  củ khoai, củ sắn. Là con út trong gia đình, nhưng tôi lại có riêng một  thằng em sữa.</p>
<p>Trải qua không biết bao nhiêu biến động chính trị trong đó không biết  bao nhiêu đầu rơi xác đổ cho những nhân danh này nọ, ngày hôm nay, tôi  vẫn tự hỏi không biết thằng em sữa bần cố nông của tôi có cái tên là  Cương ấy, còn sống hay chết, đang làm gì và ở đâu ? Lần cuối cùng tôi  gặp nó là vào ngày Cách Mạng vừa mới thành công, nó là phu vác than ở  Phố Hàng Than, Hà Nội. Tôi vừa ở trong Nam ra, mời nó đi ăn một bữa cơm  rất sang và cho nó một ít tiền. Biết rằng vú đã chết, tôi cũng không hỏi  thăm nó về chuyện vợ con của nó gì cả !</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/tramtroi.jpg" alt="" /><br />
Về qua Trạm Trôi, Sơn Tây năm 2000</p>
<p><strong>Chương Năm</strong></p>
<p><strong><img title="1931" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/1931.jpg?w=168&amp;h=225" alt="" width="168" height="225" /><em> </em></strong></p>
<p>Trước khi đề cập về sự học của tôi trong thời thơ ấu, hãy nói tới cái chơi của tôi lúc đó :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Hàng Ngang sang Hàng Đào<br />
Hàng Đào vào Hàng Bạc<br />
Hàng Bạc tạt sang Hàng Mắm<br />
Hàng Mắm ngắm xuống Hàng Bè<br />
Hàng Bè về Hàng Dầu<br />
Hàng Dầu trông ra đầu Lò Xũ<br />
Lò Xũ có một lũ bờ sông<br />
Bờ sông trông thấy cầu<br />
Trên cầu có tầu chạy…</em></p>
<p>Đó là ”đại tác phẩm” của tôi lúc còn  thơ, mô tả cái thế giới thu hẹp của đôi chân bé bỏng, không đi được tới  gần chợ Đồng Xuân hay đi quá cầu Paul Doumer. Nhưng cần gì phải đi đâu  xa ? Khu phố Hàng Dầu của tôi cũng đủ để cho anh em chúng tôi tung  hoành. Chuyện trốn học để đi chơi là chuyện quá thường đối với tôi, qua  một câu thơ ”khẩu khí” của con nít phố Hàng Dầu :</p>
<p><em>Ma cà bông (vagabond), mà cà cúi<br />
Lúi húi vườn hoa (école buissonnière)<br />
Ông Tây bắt được hỏi nhà mày đâu ?<br />
Nhà tôi ở Phố Hàng Dầu<br />
Số nhà 54 (*), đứng đầu… du côn !</em><em> </em>Tuy chỉ gắn bó với khu  Hồ Gươm, tôi cũng được làm quen với các khu khác. Khi tôi sinh ra thì Hà  Nội đã văn minh lắm rồi. Thành phố chia ra hai khu. Khu Phố Tây mới xây  từ ngày Pháp tới còn nhà cửa ở khu Phố Ta thì có từ thời vua Lê chúa  Trịnh. Nhưng đất Thăng Long bị phá hủy bởi giặc giã liên miên trong quá  khứ cho nên khu phố ta cũng đổi mới luôn luôn. Hồ Gươm với Tháp Rùa và  Đền Ngọc Sơn thật cổ điển nhưng khu phố Hàng Dầu của tôi lại mới mẻ quá.  Nhà cửa được xây cất thẳng hàng. Đường cái rộng rãi, chạy dọc chạy  ngang theo hình thước thợ và đang được trải nhựa. Anh Nhượng bị bỏng  nặng và suýt què tay khi loay hoay mở cái vòi của thùng hắc ín đang sôi  sùng sục.</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/oquan.jpg" alt="" />Trong  Hà Nội, chỉ còn một số di tích cho tôi thấy dấu vết của thời xa xưa.  Chẳng hạn chùa Trấn Quốc, cửa Ô Quan Chưởng hay cái tháp nhỏ, di tích  còn sót lại của ngôi chùa lớn tên là Chùa Báo Ân nằm trên bờ hồ Gươm đã  bị tàn phá để ở đó mọc lên nhà Giây Thép (Bưu Điện). Muốn âm thầm đi  trong một con phố thật cổ kính, tôi phải tới ngõ Phất Lộc. Trong cái ngõ  cũ nhỏ hẹp và khuất khúc này, có những ngôi nhà thấp bé, bề ngang chưa  đầy 2 thước, thụt ra thụt vào, với mái ngói dẹp, với những cây leo bám  vào tường rêu trông như những con rắn, con rết. Tôi hay tới ngõ Phất Lộc  để biết yêu thêm bài thơ<strong> Thăng Long Thành Hoài Cổ</strong> :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo<br />
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…</em>Hơn một trăm năm trước tôi, Bà Huyện  Thanh Quan đã nhớ Thăng Long Thành như vậy.Còn có thêm dăm ba di tích  cổ ở chốn thành đô làm tôi rung động. Tới chơi với các con của bà  Suzanne — vợ thứ của ông Nguyễn Văn Vĩnh — ở phố Giám, tôi thường ra  đứng ngắm những con rùa đá trong Văn Miếu và bỗng thấy mình già đi cả  mấy trăm năm. Rồi mơ ước mình cũng thông thái như các bực hiền sĩ có tên  khắc trên bia đá…</p>
<p>… Rồi khi tới nhìn lỗ đạn trên Thành Cửa Bắc do Pháp tạo ra thì thấy  tủi nhục trong lòng. Nhưng khi tới Ô Cầu Giấy thì hãnh diện vì có quân  Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc– người có liên hệ với họ ngoại của mình — đã hạ  Henri Rivière ở đây…</p>
<p>Đi trong di tích cũ để tưởng tượng ra truyện lịch sử hay dã sử Việt  Nam. Rồi thuộc lòng truyện anh hùng dân tộc không phải vì đọc sách mà  qua lời ca của người hát rong, hát xẩm : <em>Bà Trưng quê ở Châu Phong… </em>Nhưng  phải thú thật là chúng tôi bị ảnh hưởng chuyện kiếm hiệp Tầu hay cinéma  câm nhiều hơn là truyện lịch sử, dã sử. Chúng tôi thích đóng tuồng  Hoàng Giang Nữ Hiệp với nhau hay đóng vai anh hùng của cinéma câm là  Zorro, đeo mặt nạ, khoác chăn dạ, đánh gươm.</p>
<p>Chúng tôi cũng mê đá bóng kinh khủng, luôn luôn theo dõi thành tích  của Hội ÉCLAIR (Tia Sáng) vốn là hội bóng nhà, trụ sở ở ngay phố Hàng  Tre. Mê đến độ nhớ tên các cầu thủ theo thứ tự ra quân, như nhớ một bài  thơ không có vận :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Ty, (thủ môn) Tâm, Biềng (hậu vệ)<br />
Mao, Tâm, Thịnh (trung phong)<br />
Phao, Mai, Hựu, Trọng, Tín (tiền đạo)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Chúng tôi cũng lập ra đội bóng nhi đồng trong đó Nhượng là hậu vệ  trái, tôi là thủ môn. Đá bóng ngay gần nhà tôi, trên bãi cỏ ở sau lưng  rạp Cinéma Pathé, cạnh Đền Bà Kiệu, đối diện với Hồ Gươm.</p>
<p>Nói tới chuyện coi cinéma thì trước khi cậy cửa hông rạp Pathé để coi cọp cuốn phim nói đầu tiên<strong> À L’Ouest, Rien De Nouveau, </strong>chúng  tôi chỉ được coi phim câm tại rạp FAMILY ở Phố Hàng Buồm. Rạp này có  hai hạng, coi mặt chính thì phải trả hai xu, coi mặt trái thì chỉ mất  nửa tiền, cả hai hạng đều không có ghế, khán giả ngồi xệp xuống đất mà  coi. So với phim thời nay, những phim trắng đen của thời đó đạo đức hơn  nhiều. Chúng tôi rất thích coi phim khôi hài với các vua hề như Fatty,  Charlot, Max Linder… Hề Charlot có ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới sân khấu  Việt Nam. Đã là hề của gánh hát thì thể nào cũng có thêm cái tên  Charlot, ví dụ Charlot Miều.<img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/ruedulac.jpg" alt="" />Vào  khoảng năm 1930, Charlot đi du lịch vòng quanh thế giới với vợ mới cưới  là Paulette Godard và có ghé Hà Nội. Tôi đã thấy ông vua hề này đứng  chụp ảnh cạnh Tháp Báo Ân ở bờ hồ khi tôi tới đó để mua lạc rang pha  húng lìu rất ngon của vợ chồng một người Tầu. Họ bán hàng ngay cạnh Tháp  nhưng mỗi khi trời mưa thì họ chui vào ngồi bên trong cái Tháp.</p>
<p>Những trò chơi hay những trò giải trí của lũ nhóc trạc độ 10-14 tuổi  vào cái thời 1930-1935 tại Hà Nội, nói chung cũng rất là lành mạnh.  Không có chuyện đua đòi theo nhau hút thuốc lá. Không có chuyện bài bạc,  ngay cả chuyện đánh đáo, đánh khăng cũng ít xẩy ra, có lẽ vỉa hè thành  phố không phù hợp với các trò chơi đó. Không có chuyện tới tuổi dậy thì,  ham muốn nhục dục, và bàn nhau về chuyện trai gái. Lại càng không có  chuyện lập <em>gang</em> đi vẽ bậy trên tường hay đi ăn cắp, ăn cướp tuy cũng hay túm năm tụm ba để chơi chạy thi, chơi nhẩy<em> saute-moutons, </em>chơi đánh <em>boxe…</em></p>
<p>… Thỉnh thoảng gọi nhau đi đánh nhau với trẻ con ở khu khác. Trong  khu phố có một thằng tên là Ỳ khá to con được coi như đầu đảng nhưng mỗi  khi khởi sự đánh nhau thì thằng này chạy trước tiên ! Còn có thêm cái  chuyện kéo nhau đi trêu chọc những người Ấn Độ mở cửa hàng bán vải ở các  Phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Biết họ thờ bò khinh lợn, chúng tôi đến trước  cửa hàng của họ, lấy hai tay nắm hai cái vạt áo để làm thành ra hai cái  tai lợn, ngoe nguẩy hai cái tai đó trước mặt họ rồi bỏ chạy khi họ vùng  lên đuổi theo chúng tôi.</p>
<p>Ngoài những trò chơi đó và cái thú vui đọc truyện kiếm hiệp dịch từ  truyện Tầu, đọc loại sách hồng bằng Pháp Văn (livre rose, sách dành cho  tuổi thơ của người Pháp) thì cái thú lớn nhất vẫn là đi coi cinéma, nhất  là cinéma có tiếng nói, rồi sưu tập những tờ chương trình (gọi là  plaquettes) và ảnh tài tử Pháp hay Mỹ. Lúc đó thần tượng của chúng tôi  là Albert Préjean, là Brigitte Helm, là Annabella vân vân…</p>
<p>Nhưng trong cái vui thưởng thức nghệ thuật của thời đó, lũ chúng tôi có mê đi coi<strong> Chèo Cổ</strong> đang được Nguyễn Đình Nghị biến thành <strong>Chèo Văn Minh hay không</strong> ? Có thích đi coi <strong>Tuồng Quảng Lạc</strong> tức là<strong> Tuồng Tầu</strong> đã được Trần Phềnh hiện đại hoá hay không ? Có tranh nhau đi coi <strong>Cải Lương Nam Kỳ</strong> đang ở trong thời thành lập với hai loại Tuồng Tầu và <strong>Tuồng Tây</strong> hay không ? Chúng tôi có đi coi, nhưng không mê. Con nít thường hay bị  mê hoặc bởi những gì rất xa vời hơn là bởi những cái quá gần gũi. <strong>Tuồng, Chèo, Cải Lương</strong> quá quen thuộc cho nên dù có cải cách cũng không có gì để hấp dẫn tuổi  thơ. Vả lại những hình thức ca diễn kể trên nhắm vào khán giả người lớn  nhiều hơn.</p>
<p>Trong phạm vi âm nhạc, chúng tôi cũng không có những bài hát cho tuổi  thơ do nhạc sĩ Việt Nam soạn ra như trong những thế hệ sau này. Qua  những dĩa hát thuộc loại 78 tours được người Pháp sản xuất và được phổ  biến một cách giới hạn chúng tôi thuộc những bài Pháp hoặc những bài  được gọi là bài ta theo điệu Tây nghĩa là soạn lời ca Việt để hát theo  nhạc điệu Pháp hay Mỹ. Nhưng trong lúc vui chơi với nhau, không bao giờ  chúng tôi có can đảm để hát cho nhau nghe những bài hát mà mình đã  thuộc. Ngay ở trong trường học, cũng chẳng bao giờ có những buổi họp  mặt, những ngày hội vào trường hay ra trường để có những tiếng hát của  học trò, hát chung với nhau hoặc hát riêng cho nhau nghe.</p>
<p>Tuy vậy, trong cuộc sống gia đình, riêng tôi được nuôi dưỡng khá  nhiều bằng âm nhạc. Mẹ tôi nuôi một bà đánh đàn tranh người Huế tên là  bà Ấm Chung ở ngay trong nhà để dạy đàn cho hai chị tôi đánh những bài <strong>Nam Ai, Nam Bình, Lưu Thủy, Hành Vân</strong>…  Tôi được làm quen ngay với nhạc dân tộc từ khi hãy còn măng sữa. Tôi  còn có cảm tính quá nhạy bởi vì tôi khóc khi nghe một người hát rong đến  trước cửa nhà, vừa hát vừa xin tiền với hát bài kể chuyện một hành khất  mù bị đánh mất gậy. Cái vụ tôi cảm động đến khóc vì bài ca này là đề  tài cho cả nhà tôi luôn luôn chọc quê tôi…</p>
<p>Tuổi thơ của tôi còn chứng kiến những cái gì được gọi là có truyền  thống lâu đời, những truyền thống mà chẳng bao lâu nữa sẽ bị đào thải vì  sự tiếp xúc với văn hoá Âu Tây do người Pháp mang tới. Chẳng hạn một  ngành nghệ thuật cổ truyền là múa rối mà tôi được coi khi theo mẹ đi lễ.  Tại các đền chùa khi xưa, vào những ngày lễ chính, người ta thường hay  tổ chức những cuộc vui chơi như đánh đu, ném <em>còn</em> là những trò  chơi không có gì là đặc biệt cho lắm. Nhưng trò múa rối thì rất hấp dẫn.  Có hai loại múa rối : múa rối cạn và múa rối nước. Múa rối cạn của Việt  Nam cũng giống như trò <em>marionnette</em> hay trò<em>puppet</em> của  Âu Mỹ nhưng ít khi được biểu diễn ở chốn thị thành nên tôi thích lắm.  Tuy nhiên, như đã nói ở Chương Hai múa rối cạn của chúng ta không tinh  vi bằng múa rối Tầu. Nhưng múa rối nước thì chắc chắn ở Âu Mỹ không có.  Tôi không biết Trung Hoa có loại nghệ thuật bình dân này hay không ? Múa  rối nước được biễu diễn ở một cái hồ hay cái ao. Khán giả đứng chung  quanh bờ bỗng dưng thấy những con rối ở dưới nước nhẩy lên và làm trò  trên mặt nước. Thật là ngoạn mục khi ta thấy những con rối lướt đi trên  nước giống như con người có phép tiên. Kỳ diệu nhất là nếu có cảnh chiến  tranh thì có pháo nổ từ dưới nước nổ lên. Trò múa rối bị bỏ rơi hằng  mấy chục năm, bây giờ đang được phục hồi và canh tân.</p>
<p>Một trong những trò chơi khác là chọi chim. Nhiều người thường cho  chim bồ câu là hiền lành vì nó được đem ra để làm biểu tượng cho hoà  bình. Sai bét ! Vì người ta không thấy trò chơi chọi chim ở Việt Nam như  tôi đã thấy khi còn bé. Thật ra chim bồ câu rất hiếu chiến. Hai con bồ  câu đực được nhốt trong một cái chuồng. Chúng rất hoà bình với nhau  nhưng nếu đem con mái tới, và khi con mái xùy thì hai con đực đánh nhau  tới chết ! Ta đừng nên lấy làm lạ nếu thấy hai người con trai trong thời  nay đánh nhau tới chết vì một người con gái.</p>
<p>Còn một trò chơi gọi là <em>đầu hồ</em> tôi chỉ thấy chơi trong thời  đó, sau này không thấy ai chơi nữa. Đó là những thanh que dài, được  người chơi đứng xa phóng lên cho đầu thanh que rơi xuống một cái trống  con rồi thanh que đó bật ngược lên cao để rơi vào họng của một cái bình  hoa đặt ở xa xa. Người chơi phải đạt được hai lần chính xác : một lần  khi tung thanh que rơi xuống mặt trống và một lần nữa khi thanh que đó  rơi vào cái miệng hẹp của chiếc bình hoa. Trò chơi này cho ta nghe hai  âm thanh vui : tiếng <em>tom</em> của cái trống và tiếng <em>thụt</em> của thanh que khi rơi vào bình.</p>
<p>Ngoài những trò vui mà trẻ con nhà nghèo như tôi được coi không mất  tiền vào những năm 30 như chuyện ông Hai Tây đóng đinh lỗ mũi, làm trò  quỷ thuật và những người mãi võ bán thuốc sơn đông ở bãi cỏ bên đền Bà  Kiệu… còn có thêm những trò xiếc ở chợ Hàng Da. Đây là nơi dành riêng  cho những gánh xiếc lớn, ngày thường là nơi họp chợ, khi có gánh xiếc  ngoại quốc hay xiếc Việt Nam tới dựng lều thì chợ Hàng Da là nơi thu hút  tất cả trẻ em Hà Nội.</p>
<p>Tôi thích coi xiếc vì, với tôi xiếc là nơi kỳ diệu, con người đùa  giỡn với tử thần khi đu bay hay nghịch ngợm với hổ báo… những việc tôi  cho là siêu phàm. Tôi mê khung cảnh ồn ào của xiếc, bóng dáng và hành  động phi lý của những chàng hề, thân hình mềm mại như bún của cô gái  xiếc và nhất là mùi nồng của thú dữ. Và bao giờ tôi cũng buồn bã rất lâu  khi gánh xiếc nhổ cọc cuốn lều ra đi.</p>
<p>Trò xiếc tôi được coi lúc đó không hoàn toàn theo truyền thống dân tộc dù trong quá khứ, <strong>Hát Cửa Đình</strong>, tiền thân của <strong>Hát Ả Đào</strong> cũng có trò đi trên dây và có nhào lộn. Có ba gánh xiếc Việt Nam, tổ  chức theo xiếc Âu Tây. Gánh xiếc Việt Nam đầu tiên là Gánh Lạc Long…</p>
<p><img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/xieclongtien2.jpg" alt="" hspace="20" align="left" />Xuân Lôi, Xuân Tiên trong gánh xiếc</p>
<p>…Rồi tới gánh Long Tiên và Tạ Duy Hiển. Giá vé vào coi cũng không đắt  lắm nhưng trẻ con như tôi thì thường chui dưới lều vào coi cọp một cách  rất dễ dàng. Gánh Long Tiên có câu hát quảng cáo :</p>
<p><em>Xiếc này là xiếc Long Tiên<br />
Đi xe đạp trên dây, gẩy đàn…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em>Sau này Gánh Long Tiên tan nhưng nhân viên của gánh trở thành những nhạc công giỏi như Xuân Tiên, Xuân Lôi.<img src="http://www.phamduy.com/document/hoiky/hoiky1/images/loitien1949.jpg" alt="" /><br />
Ban Nhạc Xuân Lôi, Xuân Tiên<br />
trong kháng chien (Đống Năm 1949)Gánh Tạ Duy Hiển đồ sộ hơn vì có  voi, có hổ giống như một gánh xiếc Âu Mỹ. Ông chủ gánh Tạ Duy Hiển là  người Việt Nam đầu tiên điều khiển các thú dữ. Đầu chít khăn đống, mình  mặc áo gấm hoa, thắt lưng đỏ, đôi chân đi ủng và một tay cầm ghế, một  tay cầm roi dài quất lên đen đét để sai khiến mấy con hổ, trông ông rất  oai.</p>
<p>Xiếc ngoại quốc có tới Việt Nam để kiếm ăn và có một chủ xiếc người  Anh, tự tử ở thành phố Vinh. Chỉ vì mấy anh hề trong gánh làm một trò  khôi hài trong đó có một anh ”clown” đóng vai người da trắng đá đít một  anh hề khác đóng vai người Việt Nam, chạm tới danh dự người mình cho nên  gánh xiếc bị tẩy chay. Chủ gánh là Hamilton không đủ tiền để trả nhân  viên và để nuôi thú vật nên tự tử.</p>
<p>Tôi mê xiếc đến độ tự đặt cho mình thêm cái tên bằng tiếng Pháp :  Emecirque (Em-mê-Xiếc). Đó cũng còn bởi vì lúc đó tôi đang mê một con  nhỏ láng giềng lai Pháp tên là Emilienne mà tôi sẽ nói tới trong một  Chương sau.</p>
<p>Nói đến cọp trong gánh xiếc là nhớ tới Suối Rút ở biên giới hai tỉnh  Sơn La-Hoà Bình và Núi Chẹ ở Sơn Tây. Một người bạn của mẹ tôi là bà  Bách, sau khi lấy ông chồng Tây và có mấy người con gái lai thì tục  huyền với một người Việt ở Suối Rút. Hai người con gái của bà lấy chung  một ông chủ đồn điền ở Núi Chẹ tên là Thibault. Mẹ tôi đi mua sừng nai  hay xương hổ để nấu thành cao ban long hay cao hổ cốt là lên hai chốn  sơn lâm này và tôi thường được mẹ cho đi theo. Ở Núi Chẹ thì vui lắm  nhưng ở Suối Rút thì tôi sợ ma vì được nghe câu doạ :<em> Đất Sơn La (có con) ma Vạn Bú…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Từ Núi Chẹ đi Suối Rút phải đi qua Núi Tản của Tản Đà tức là Ba Vì  của Trần Quang Dũng. Đi khỏi Chợ Bờ là tới Suối Rút, một làng sơn cước  nằm ở Châu Mai (hay Châu Mộc ?), hai cái tên sẽ vào nằm trong bài thơ  Tây Tiến của thi sĩ họ Trần, anh bạn của tôi trong kháng chiến. Và ngay  từ khi còn bé, tôi được sống những buổi chiều rừng có làn sương lam toả  lên ôm ấp ngọn núi đá cạnh nhà, được nghe tiếng chim rừng gọi nhau buổi  sớm hay nghe tiếng cọp gầm trong đêm. Sau này đi kháng chiến và phải  sống ở vùng thượng du, tôi thấy rừng núi đối với tôi rất là thân thiết.  Như bạn cũ lâu ngày gặp lại.</p>
<p>Trong những ngày ở Núi Chẹ, tôi còn được thấy chị Yvonne là vợ của  ông Thibault đêm đêm vác súng đi bắn cọp. Thấy đàn bà không sợ cọp, lại  còn giết được cọp thì tôi phục lắm. Ngoài ra tôi còn được biết rằng cọp  không bao giờ dám vồ người khi người đối diện với cọp và nhìn vào mắt  cọp. Do đó ở Ấn Độ, người đi rừng thường đeo một cái mặt nạ ở đằng sau  gáy. Cọp đi theo người, nhìn vào mặt nạ tưởng là nhìn vào mặt người, cọp  bèn lảng đi.</p>
<p>Đồn điền Núi Chẹ cũng như nhà ông bà Bách ở Suối Rút đều nằm trong  khu vực người Mường, người Thái. Tôi thấy được cuộc đời vật lộn với  thiên nhiên của người sơn cước ngay từ khi tôi còn bé. Với cái nhìn vào  sự sinh hoạt của dân miền núi, với hình ảnh chị Yvonne đội mũ có đèn pin  đi bắn cọp và với bài học về Chúa Sơn Lâm như vậy, tôi sớm có ý niệm về  sức mạnh tinh thần và vật chất của con người được dùng để cả thắng rừng  thiêng thú dữ ra sao.</p>
<p>____________________________<br />
(*) Thằng bạn ở số nhà 21 cũng dùng được câu thơ này, miễn là đổi số nhà.</p>
<p><em>Bà tú từ bi<br />
Ta ở bờ bể …</em><br />
<strong>QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ</strong></p>
<p><strong><strong>Chương Sáu</strong></strong></p>
<p><strong><strong> </strong></strong></p>
<p><strong><strong> </strong></strong></p>
<p><strong><strong> </strong></strong></p>
<div id="attachment_2822"><img title="nguyendu" src="http://haydanhthoigian.files.wordpress.com/2010/03/nguyendu.jpg?w=442&amp;h=275" alt="" width="442" height="275" />Tay cầm mũ nồi &#8211; Lớp Nhất &#8211; Trường Amiral Courbet  tức Trường Nguyễn Du, tức Trường Hàng Vôi (1935)&nbsp;</p>
</div>
<p>Tôi học vỡ lòng ở trường Hàng Thùng.  Rồi học Tiểu Học ở trường Hàng Vôi (1), trường nào cũng chỉ cách nhà tôi  khoảng 200 thước. Mỗi sáng được mẹ cho hai xu để ăn bánh mì chấm dấm.</p>
<p>Chúng tôi là thế hệ đầu tiên đi vào nhà trường không phải với cái bút  lông ở trong tay như thế hệ cha ông, mà là với ngòi viết bằng sắt có  tên hiệu Mallart. Việc học đánh vần cũng chưa có tí gì là thi vị như vào  thời có phong trào Bình Dân Học Vụ sau này. Lúc đó là : <em>A Bê Xê dắt dê đi ỉa… </em>Đó  chỉ là lối học chữ mà học trò mất dạy như tôi đã học được ở lũ bạn lếu  láo. Thực ra, lối dạy trẻ em tập đọc của Nha Học Chính Đông Pháp cũng  nên thơ lắm. Bài tập đọc thứ 15 của lớp Đồng Ấu với những câu <em>ba ba, lá to, tủ bé, bí bỏ bị, bê bú bò… </em>đã giúp chúng tôi soạn ra những tác phẩm như <em>bà ba bán bánh bèo bên bãi bể bị bắt bỏ bóp ba bốn buổi…</em></p>
<p>Chữ quốc ngữ đã rất thông dụng khắp nơi trong nước nhưng trong gia  đình tôi, chữ nho vẫn còn được coi là thiêng liêng. Hễ thấy dưới đất có  tờ giấy nào in hay viết những mẩu chữ của Thánh Hiền thì mọi người phải  trịnh trọng cúi xuống nhặt lên. Rồi cũng không được vứt giấy có chữ nho  đó vào sọt rác mà phải đốt đi.</p>
<p>Ở trường Hàng Vôi, trong những năm học các lớp đồng ấu (cours  enfantin) lớp dự bị (préparatoire) và hai lớp sơ đẳng (cours moyen I và  II), tôi học dốt lắm. Trong các thầy, sợ nhất là thầy Quỳnh — chúng tôi  gọi là Quỳnh Cóc — rất dữ, rất ác. Thằng nào mắc lỗi là bị quỳ lết,  nghĩa là phải lết đi lết lại trong lớp bằng hai đầu gối. Có lần tôi bị  toét hai đầu gối, hai ba tuần lễ sau vết thương mới lành. Thầy Quỳnh Cóc  mà ở bên Mỹ bây giờ thì sẽ bị <em>sô si an uốc kơ</em>báo cáo và đi tù bằng thích.</p>
<p>Năm tôi 13 tuổi và lên được lớp nhất (cours supérieur) thì tôi được  coi như một trong những học trò giỏi nhất lớp. Tôi xuất sắc trong môn  récitation francaise với bài <em>Après La Bataille </em>của Victor Hugo, khi diễn tả bằng cử chỉ và giọng đọc một bài thơ vừa hùng hồn, vừa đầy tính nhân đạo.</p>
<p>Victor Hugo kể truyện người cha của thi sĩ, có nụ cười êm ái (au  sourire si doux), sau một cuộc chiến, cưỡi ngựa đi quan sát chiến  trường. Thấy một người lính địch bị thương nặng, nằm rên và kêu khát  nước, vị tướng ra lệnh đem nước uống tới cho kẻ thất trận. Ai ngờ người  lính đó rút súng bắn ông, nhưng vì con ngưạ lồng lên nên ông không trúng  đạn. Ông tướng kìm cương ngựa lại, cất tiếng nói :<br />
<em>–Cứ cho nó uống nước đi ! Donne lui tout de même à boire !</em></p>
<p>Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ ơn thầy Quỳ ở lớp Nhất trường Hàng Vôi,  với lối khuyến khích học trò đọc những bài thơ có diễn tả như vậy, thầy  đã làm cho khả năng biểu diễn trong tôi được khêu gợi rồi phát triển  không ngừng.</p>
<p>Vào tuổi 13, 14 mà hiểu biết được cái hay, cái đẹp của văn chương  Pháp qua những bài thơ của Victor Hugo, André Chenier, Alfred de Vigny…  cũng là một điều tốt. Nhưng không hẳn phần hồn của thế hệ chúng tôi đã  chỉ được nuôi dưỡng bằng nền văn hoá của Pháp mà thôi. Chất liệu cần  thiết cho sự hình thành con tim và khối óc của chúng tôi lúc vừa bước  vào cái ngưỡng cửa của xã hội là nhà trường, đó là cái mà nhà văn Sơn  Nam nhắc tới trong mẩu truyện ngắn nhan đề <em>Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư </em>trong cuốn <strong>HƯƠNG RỪNG CÀ MÂU</strong>.</p>
<p>Đúng như vậy, trong bốn năm học tiểu học, những bài học trong các cuốn <strong>LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ, QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ </strong>do  Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Thận và Đặng Đình Phúc soạn ra cho  Nha Học Chánh Đông Pháp… đã khắc ghi một cách rất sâu đậm vào tâm hồn  hãy còn non nớt và trinh bạch của chúng tôi, những đức độ của con người  Việt Nam, không phải là của con người ở thành thị đang sửa soạn mất gốc,  mà là của con người ở nông thôn, (tôi nhấn mạnh) con người muôn thuở,  con người căn bản của một nước, dù đó là một nước đang trong thời kỳ  Pháp Thuộc.</p>
<p>Sau bốn năm tiểu học này, chúng tôi đã hấp thụ được những gì gọi là  cao nhã, lễ nghĩa, nhân hậu trong con người Việt Nam. Chúng tôi được  hiểu biết những cái gọi là <strong>tình huynh đệ, tính đùm bọc, sự trong sạch, niềm tương trợ, lòng cao cả, sự cương nghị, niềm đại lượng, tính khoan hồng</strong>…  đã sống động như thế nào trong con người, trong cuộc sống và trong lịch  sử Việt Nam. Qua những bài học rất ngắn ngủi, có thể khoanh tay đọc ê a  ở trong lớp rồi về nhà là quên đi, nhưng không ngờ nó vào nằm sâu trong  lòng và sẽ không bao giờ bước ra khỏi tâm hồn của chúng tôi.</p>
<p>Tuy nhiên, khi rời ghế nhà trường để bước chân vào đời, than ôi, tôi  thấy con người Việt Nam xử sự với nhau không giống những bài học luân lý  mà tôi học được khi còn thơ. Những lúc đó, tôi phải gồng mình lên, nhớ  lại bài học cũ. Và nghĩ rằng đả phá xã hội nông thôn để thay thế bằng  một xã hội thị thành chưa chắc là điều đúng.</p>
<p>Ngoài những điều hay tôi hấp thụ được nơi nhà trường, tôi còn cho  rằng tâm hồn của lớp thiếu nhi chúng tôi hồi đó đã được nuôi dưỡng bằng  những bài ca ái quốc. Thời ấu thơ của lứa tuổi chúng tôi còn là thời ấu  thơ của những đứa bé sống trong một nước bị trị. Dù muốn hay không,  chúng tôi sinh ra đã có ẩn ức của người dân nô lệ mà cha mẹ cấy vào bào  thai. Chúng tôi chưa có ai dạy cho mình biết là phải yêu nước và chống  Tây ra sao nhưng chắc chắn chúng tôi vừa ghét Tây, vừa sợ Tây, luôn luôn  bị ám ảnh bởi câu đe doạ của những bà mẹ Việt Nam thời đó :<br />
<em>—Mày không ngoan, tao gọi ông Tây đến bắt đi bây giờ.</em><br />
Hoặc bởi câu châm ngôn do chính mình soạn ra :<br />
<em>– Ông Tây bắt được hỏi nhà mày đâu ?</em></p>
<p>Ghét Tây, sợ Tây nhưng chúng tôi cũng  luôn luôn được người lớn dạy cho những bài học yêu nước qua những câu  hát có tính cách tuyên truyền hoặc qua những hành động cách mạng cụ thể.</p>
<p>Thời đó, như tôi đã nói, trẻ thơ Việt Nam sống ở Hà Nội không có  nhiều bài hát như các nhi đồng trong những thập niên sau này. Chúng tôi  chỉ có dăm ba câu ca lếu láo như :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Tôi chờ cô tối qua<br />
Suốt canh chầy chẳng thấy cô ra…<br />
</em>hay là :<br />
<em>Mình ơi có đi bờ hồ<br />
Cùng tôi chén kem kẹo dừa…</em><br />
…hát theo điệu cổ truyền. Tuổi thơ nào và ở đâu mà chẳng thích ca hát ?  Do đó một số nhà giáo bèn bắt chước người xưa (như Lê Ngô Cát, Phạm Đình  Toái đã dùng thi ca để viết cuốn <strong>Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca</strong>)  cho phổ biến một số bài hát với lời ca kể lại truyện tích trong lịch sử  Việt Nam. Tôi còn nhớ một bài về dòng giống Lạc Hồng, hát theo điệu <strong>Cổ Bản </strong>:<br />
<em> </em><em>Dân số 25 triệu<br />
Nòi giống da vàng (ứ)<br />
Chi Hồng Bàng<br />
Dòng họ Hùng Vương (ứ ư)<br />
Phi thường<br />
Về thời hồng hoang…</em>Soạn lời ca mới để hát trên điệu cổ, kể truyện  lịch sử hay truyện dã sử, cốt ý nhồi cái phi thường của dòng giống Việt  Nam vào đầu lũ trẻ, lúc đó các nhà giáo còn làm một chuyện cũng khá ngộ  nghĩnh là dùng một điệu hát Việt Nam đang thịnh hành là điệu <strong>Hành Vân</strong>, để dạy học trò với lời ca bằng tiếng Pháp :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Mes chers enfants<br />
Mes chers enfants<br />
Vous êtes des jeunes gens<br />
Travaillez<br />
Et rappelez vous<br />
Que le temps qui passe<br />
Marche vite…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Các vị đó còn dùng một điệu hát bình dân của Pháp để soạn lời ca yêu  nước, đánh thức người dân đang ngủ vùi dưới chế độ thực dân với một đoản  khúc hát trên điệu <strong>Frère Jacques </strong>của Pháp :<br />
<em> </em><em>Hời hợi đồng bào<br />
Hời hợi đồng bào<br />
Tỉnh dạy mau<br />
Tỉnh dạy mau<br />
Nước ta đã mất rồi<br />
Nước ta đã mất rồi<br />
Mau tỉnh mau<br />
Mau tỉnh mau…</em>Thật là hay ! Vì ý nghĩa của bài<strong> Frère Jacques </strong>của người Pháp cũng là một lời kêu gọi, thức tỉnh :<br />
<em> </em></p>
<p><em> </em><em>Frère Jacques<br />
Frère Jacques<br />
Dormez vous<br />
Dormez vous<br />
Sonnez les matines<br />
Sonnez les matines<br />
Ding dang dong<br />
Ding dang dong</em><br />
Nhưng nếu phải tìm hiểu xem trong thời đó có bài hát nào đã ảnh hưởng  rất sâu vào tâm hồn non dại của tôi thì đó là bài thơ được ngâm lên nhan  đề <strong>Tiễn Chân Anh Khoá </strong>của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải.  Đây là một bài thơ ngâm, nói tới chuyện người thanh niên Việt Nam bị  cưỡng bách lên đường tòng chinh qua Pháp để che chở ”mẫu quốc” chống lại  ”Đức tặc” trong cuộc Thế Chiến Thứ Nhất. Bài này được các bà mẹ Việt  Nam thời đó rất thích, do đó chúng tôi luôn luôn được nghe mẹ mình hoặc  được nghe chị mình ngâm nga :<br />
<em> </em><em>Anh Khoá ơi<br />
Em tiễn chân anh ra tận bến tầu…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Bài thơ ngâm này là lời than thở của một người vợ lính nhưng thực sự  nó nói tới cảnh khổ của lớp đồ nho, một tầng lớp khá cao trong xã hội  Việt Nam lúc đó vì được coi như lớp người đại diện cho đại đa số dân  chúng là giai cấp nông dân. Họ bất lực trước hoàn cảnh nước mất vào tay  thực dân :<br />
<em> </em><em>Anh Khoá ơi<br />
Em nghĩ thương anh cũng bậc anh hào<br />
Ngang trời dọc đất anh nào có chịu thua ai ?<br />
Chỉ tiếc thay anh sinh chẳng gặp thời<br />
Để tang bồng nặng gánh, anh ngậm ngùi bước ra đi…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Hoặc là anh Khoá ra đi, nhưng anh đi đâu ? Hoặc là anh bịt mắt, bịt tai, bịt mồm trước sự bất lực đó :<br />
<em> </em><em>Anh Khoá ơi<br />
Em cảm thương anh, em lại giận cho Trời<br />
Bức tranh vân cẩu, tấn trò đời bày xoá như không<br />
Anh thà như ai câm điếc cho xong<br />
Bưng tai nhắm mắt ôm lấy miếng đỉnh chung nó cũng hư đời…</em><br />
Và cuối cùng, vẫn mơ có ngày xoay lại điạ cầu :<br />
<em> </em><em>Anh Khoá ơi<br />
Thôi kể bao nhiêu lại động mối quan hoài<br />
Gan vàng dạ sắt có đất trời soi xét cho nhau<br />
Em chỉ nhờ anh xoay lại quả địa cầu<br />
Cho non nước khỏi u sầu với lúc mưa râm…</em><br />
Người Pháp đã tìm mọi cách để cấm lưu hành bài thơ này. Có thể vì thế mà ai cũng thích bài <strong>Anh Khoá</strong>. Giản dị là như vậy. Tôi luôn luôn được mẹ và chị rót bài <strong>Anh Khoá</strong> này vào tai, tuy trong lòng thì thương xót Anh Khoá nhưng trong đầu thì  lại mơ màng tới chuyện được đáp tầu đi Tây như Anh Khoá. Cuốn <strong>ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC</strong> của Nguyễn Hiến Lê cũng cho biết bài hát<strong> Anh Khóa</strong> được viết ra trong thời gian<strong> Nghĩa Thục</strong> chủ trương việc soạn những bài ca ái quốc.</p>
<p>Ngoài những bài hát tình cảm trở thành bài hát tuyên truyền như thế, còn có những hành động cách mạng làm cho tôi bị rung động. <strong>Đông Kinh Nghĩa Thục</strong> là một tổ chức cách mạng công khai đã bị tan rã sau khi vụ đầu độc quan  binh Pháp ở Hà Nội bị thất bại vào năm 1908. Từ đó trở đi, người ta  thấy rằng muốn lật đổ Pháp thì phải dùng bạo động và phải tổ chức những  ”hội kín”. Ngày cụ Phan Chu Trinh từ Pháp trở về nước rồi qua đời tại  Saigon vào năm 1926 và lễ truy điệu nhà ái quốc này được tổ chức rất  long trọng ở trên toàn quốc kéo theo những cuộc bãi khoá của sinh viên  thì Pháp ra tay đàn áp. Sinh viên cao đẳng thương mại Nguyễn Thái Học đã  bị đuổi ra khỏi nhà trường.</p>
<p>Các đảng phái cánh mạng ở ngoài nước và ở trong nước đã hoặc bắt đầu thành hình như :<br />
– <strong>Đảng Tân Việt Cách Mệnh</strong> do Tôn Quang Phiệt lãnh đạo có xu hướng cách mạng vô sản, nhen nhóm ở Bắc Trung Kỳ;<br />
– <strong>Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội</strong> do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu, Trung Hoa là tiền thân của <strong>Đảng Cộng Sản</strong> bây giờ cũng đã loáng thoáng tuyên truyền ở quốc nội;<br />
– <strong>Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong> thành lập ngày 25-12-1927 với Đảng Trưởng là Nguyễn Thái Học, Phó Đảng Trưởng là Nguyễn Khắc Nhu.</p>
<p>Vào lúc tôi lên 10, tức là khoảng năm 1930, tôi còn quá nhỏ bé để có  thể biết đến những hoạt động cách mạng xa vời của Cường Để, Phan Bội  Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hải Thần hay Nguyễn Ái Quốc… nhưng tôi lại  được nhìn thấy tận mắt một hành động của <strong>Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong> trong vụ ám sát một người tên là Giáo Du ở ngay trước cổng trường  Amiral Courbet (Nguyễn Du) là nơi tôi đi học. Giáo Du đồng loã với con  là Đội Dương, người dắt mật thám Tây về bao vây làng Võng La để định bắt  các lãnh tụ <strong>Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong>. Do đó, Giáo Du đã bị bắn chết ở trước cửa căn nhà đối diện với trường tiểu học của tôi và trước mắt tôi.</p>
<p>Đây cũng là lúc <strong>Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong> cho phổ biến một bài ca Cách Mạng mà về sau này, có người nói với tôi là do chính Nguyễn Thái Học soạn ra, hát theo điệu <strong>Bình Bán</strong> :<br />
<em> </em><em>Ta là dân nước Nam<br />
Giống Lạc Hồng nay đã lầm than<br />
Phải làm sao giết quân tham tàn<br />
Thì lòng ta rồi sẽ mới an.<br />
Nghĩ câu nước mất nhà tan<br />
Sáu mươi năm làm dân nô lệ<br />
Cảnh tình này rất tệ<br />
. . . . . . . .<br />
Phải làm sao giết quân tham tàn<br />
Thì lòng ta rồi sẽ mới an…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Tiếp tới là vụ Yên Báy với kết quả là các vị anh hùng trong <strong>Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong> bị đưa lên đoạn đầu đài. Lúc đó, tôi không cần phải được ai giáo dục để  cho tôi hiểu được thế nào là cách mạng nhưng tôi đã cảm thấy ngay là  nếu muốn độc lập tự do (thu gọn trong hai chữ đánh Tây) thì phải làm như  Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Ông.</p>
<p>Tôi bị rung động vì sự hi sinh tính mạng của bản thân các vị anh hùng  đó ở ngay trên đất nước chứ không phải vì những huyền thoại về những  nhà cách mạng xa vời. Đối với thằng bé con như tôi lúc đó, câu nói không  thành công cũng thành nhân của Nguyễn Thái Học mang nhiều ý nghĩa hơn  bốn chữ ”bôn ba hải ngoại” rất lãng mạn mà sau này tôi vẫn thường đọc  thấy hoặc nghe thấy khi người ta nói về những người làm chính trị khác.</p>
<p>Tôi được mục kích hành động của người anh hùng bằng xương bằng thịt  chứ không phải chỉ nhìn những giấc mơ của anh hùng trong sử liệu, trong  tiểu thuyết hay trong tranh vẽ. Tôi thấy ảnh của Nguyễn Thái Học và các  đồng chí mà thực dân cho đăng trên mặt báo mà tim tôi thắt lại, cũng  giống như mỗi khi tôi được coi những bưu ảnh có hình đầu lâu các vị anh  hùng Yên Thế. Có thể hình ảnh những đầu lâu này ám ảnh tôi để rồi sẽ  hiện ra trong vài bài hát của tôi sau này.</p>
<p>Người Pháp muốn khủng bố dân chúng nên đã cho phổ biến những hình ảnh  ghê rợn đó nhưng ngược lại những hình ảnh đó chỉ làm cho người Việt Nam  căm thù họ hơn lên. Dù còn bé, tôi cũng biết thù ghét người con nuôi  của Cụ Đề Thám đã dắt tay sai của Pháp là Lê Hoan tới bắt Cụ cũng như  tôi đã biết khinh bỉ những vị quan lại như ông tuần phủ họ Cung đã giúp  kẻ thù trong việc bắt giết những anh hùng trong<strong> Việt Nam Quốc Dân Đảng</strong>.</p>
<p><strong><strong>______________________<br />
(1) Có thể vì ghét Pháp hay để cho  tiện nói cho nên mọi người không gọi tên Pháp của các trường học. Người  ta dùng tên phố để gọi tên trường. Trường Amiral Courbet gọi là trường  Hàng Vôi, trường Jean Dupuis gọi là trường Bờ Sông, trường Henry Russier  gọi là trường Hàng Than…</strong></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/hoi-ky-pham-duy/2010/10/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ngày xưa có mẹ &#8211; Thanh Nguyên &#8211; 1981</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/ngay-x%c6%b0a-co-me/2010/06/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/ngay-x%c6%b0a-co-me/2010/06/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 13 Jun 2010 07:42:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nhà thơ Thanh Nguyên]]></category>
		<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[1981]]></category>
		<category><![CDATA[NGÀY XƯA CÓ MẸ]]></category>
		<category><![CDATA[Thanh Nguyên]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=430</guid>
		<description><![CDATA[Khi con biết đòi ăn
Mẹ là người mớm cho con muỗng cháo
Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu
Mẹ là người thức hát ru con]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span><span style="font-family: Arial; color: #000099; font-size: x-small;">Khi con biết đòi ăn<br />
Mẹ là người mớm cho con muỗng cháo<br />
Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu<br />
Mẹ là người thức hát ru con<br />
Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn<br />
Là khi tóc mẹ ngày thêm sợi bạc<br />
Mẹ đã thành hiển nhiên như Trời &#8211; Đất<br />
Như cuộc đời không thể thiếu trong con<br />
Nếu có đi vòng quả đất tròn<br />
Người mong con mỏi mòn chắc không ai ngoài mẹ<br />
Cái vòng tay mở ra từ tấm bé<br />
Cứ rộng dần theo con trẻ lớn lên<br />
Mẹ là người đã cho con cái tên riêng<br />
Trước cả khi con bật nên tiếng &#8221; Mẹ &#8220;</span></span></p>
<p>Mẹ !<br />
Cái tiếng gọi mà từ khi bập bẹ<br />
Đến lúc trưởng thành<br />
Con vẫn chưa hiểu hết chiều sâu</p>
<p>Mẹ !<br />
Có nghĩa là bắt đầu<br />
Cho sự sống , tình yêu , hạnh phúc</p>
<p>Mẹ !<br />
Có nghĩa là duy nhất<br />
Một bầu trời<br />
Một mặt đất<br />
Một vầng trăng<br />
Mẹ không sống đủ trăm năm<br />
Nhưng đã cho con dư dả nụ cười và tiếng hát<br />
Chỉ có một lần mẹ không ngăn con khóc<br />
Là khi mẹ không thể nào lau nước mắt cho con<br />
Là khi mẹ không còn<br />
Hoa hồng đỏ từ đây hóa trắng &#8230;</p>
<p>Rồi những đứa bé lại chào đời và lớn lên theo năm tháng<br />
Biết bao người được làm mẹ trong ngày<br />
Tiếng trẻ con gọi mẹ ngân nga trên trái đất này<br />
Thành âm thanh không bao giờ vắng lặng</p>
<p>Mẹ !<br />
Có nghĩa là ánh sáng<br />
Một ngọn đèn thắp bằng máu con tim<br />
Cái đóm lửa thiêng liêng<br />
Cháy trong bão bùng , cháy trong đêm tối</p>
<p>Mẹ !<br />
Có nghĩa là mãi mãi<br />
Là cho &#8211; đi &#8211; không &#8211; đòi &#8211; lại &#8211; bao &#8211; giờ<br />
Cổ tích thường bắt đầu từ : &#8221; Ngày xưa có một công chúa &#8230; &#8221; hay &#8221; Ngày xưa có một vị vua &#8230; &#8221;<br />
Cổ tích còn bắt đầu từ : &#8221; Ngày xưa có mẹ &#8230;. &#8221;</p>
<p><strong>Thanh Nguyên &#8211; 1981</strong><em></em></p>
<p><em>Trích từ tập thơ &#8221; Khúc gọi tình &#8221; &#8211; NXB Văn Nghệ TP. HCM &#8211; 1992</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/ngay-x%c6%b0a-co-me/2010/06/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những bóng hồng trong đời thơ Nguyễn Bính</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/nhung-bong-hong-trong-doi-tho-nguyen-binh/2010/03/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/nhung-bong-hong-trong-doi-tho-nguyen-binh/2010/03/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 17 Mar 2010 06:34:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nhà thơ Nguyễn Bính]]></category>
		<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Những bóng hồng trong đời thơ Nguyễn Bính]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=431</guid>
		<description><![CDATA[Mang một tâm hồn hết sức nhạy cảm, cho nên việc trái tim của chàng thi sĩ chân quê luôn vương vấn những bóng hồng trên từng bước phiêu lãng kể cũng không có gì là lạ. Nhà văn Hoàng Tấn đã từng nhận xét về người bạn thân: “Cái anh thi sĩ này là [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="PublishingImage_Container"><strong><span style="color: #808080;">Mang một tâm hồn hết sức nhạy cảm,  cho nên việc trái tim của chàng thi sĩ chân quê luôn vương vấn những  bóng hồng trên từng bước phiêu lãng kể cũng không có gì là lạ. Nhà văn  Hoàng Tấn đã từng nhận xét về người bạn thân: “Cái anh thi sĩ này là  chúa đa tình!”.</span></strong></div>
<div>
<p>Tên Nguyễn Bính xuất hiện trên văn đàn bằng giải khuyến khích  của nhóm Tự Lực Văn Đoàn trao cho tập thơ Tâm hồn tôi của chàng thanh  niên 22 tuổi (1940). Ở ngay tập thơ ấy, “tâm hồn tôi” đã được Nguyễn  Bính ghi tặng cho cô Oanh &#8211; một người đẹp đất Hà Đông:</p>
<p><em> “Tâm hồn tôi  là một bình rượu nhỏ</em></p>
<p><em>Rót dần dần, rót mãi xuống nàng Oanh</em></p>
<p><em>Không say sưa,  nàng vẫn vô tình</em></p>
<p><em>Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ&#8230;”</em>.</p>
<p>Cho nên, “ghi  tặng” cho&#8230; oai vậy thôi, chứ giai nhân này chưa hề trao đổi, chưa hề  ước hẹn nửa câu với anh chàng thi sĩ đa tình. “Cô ấy” chỉ là người mà  chàng thầm yêu trộm nhớ.</p>
<p><em>“Nhưng yêu Oanh quá cho nên phải</em></p>
<p><em>Mơ  chuyện  thần tiên để dối mình&#8230;”.</em></p>
<p>Năm 1941, Nguyễn Bính ra mắt tập thơ Hương cố nhân, trong tập thơ này  có nhiều bài thơ dành tặng cho một người con gái tài hoa, mà Nguyễn  Bính gọi nàng dưới nhiều cái tên: Hương, Mai Thơ, Tây Thi&#8230; thực ra đó  là nữ sĩ Anh Thơ (tên thật là Vương Kiều Ân, do đó Nguyễn Bính còn lấy  bút hiệu là Vương Kiều Mộc). Nàng cũng làm thơ, cũng viết về đề tài nông  thôn và tập thơ Bức tranh quê của nàng cũng được nhóm Tự Lực Văn Đoàn  trao giải khuyến khích. Những cái “cũng” hết sức tương đồng ấy đã đưa  hai tâm hồn “vướng nợ thi nhân” này lại gần nhau. Một mối tình rất&#8230;  thơ, nhưng cũng đầy trắc trở:</p>
<p><em>“Em tôi be bé làm thơ</em></p>
<p><em>Tôi lo tiền cưới  bao giờ cho xong&#8230;”. </em></p>
<p>Nàng là cô tiểu thư vùng Phủ Lạng &#8211; Bắc  Giang, nơi có con sông Thương “nước chảy đôi dòng”, còn chàng chỉ là thi  nhân “khăn gói giang hồ”:</p>
<p><em>“Em là con gái nhà giời</em></p>
<p><em>Tôi là con cái  nhà người thường dân</em></p>
<p><em>Yêu em có vạn có ngàn</em></p>
<p><em>Nhưng cha không chứng cho bàn  tay khôn!”.</em></p>
<p><em> Rồi cay đắng: </em></p>
<p><em>“Ai thề như mới hôm qua</em></p>
<p><em>Lấy nhau không được  chẳng thà chết đi</em></p>
<p><em> Mà thôi nhắc lại làm gì</em></p>
<p><em>Thế gian chán vạn kẻ thề có  sao!”. </em></p>
<p>Trách móc là vậy nhưng tâm hồn của nhà thơ cứ tơ tưởng về  người con gái Phủ Lạng:</p>
<p><em>“Cô Thơ, cô đẹp nhất làng</em></p>
<p><em>Nghe trời đổ gió  may quàng áo bôn</em></p>
<p><em>Lạnh rồi! Sắp sửa mùa đông</em></p>
<p><em>Người ta sắp sửa lấy chồng  hay chưa?</em></p>
<p><em>Vội vàng chi mấy cô Thơ</em></p>
<p><em>Áo bông tuy ấm nhưng chưa bằng  chồng</em></p>
<p><em>Tôi cầu trời mất mùa đông</em></p>
<p><em>Cố nhân xa lắm, áo bông rách rồi&#8230;”.</em></p>
<p><em></em>Nhà  văn Hoàng Tấn nhận xét : “Đây có lẽ là mối tình đau khổ nhất của Bính,  cái khổ đau nó kéo dài suốt cả đời người, vì không khi nào viết văn làm  thơ có dịp là Nguyễn Bính không nhắc đến Hương cố nhân:</p>
<p><em>“Xây bao  nhiêu mộng thế mà</em></p>
<p><em>Đến nay phải gọi người là cố nhân!”.</em></p>
<p>Ít ai biết ngoài làm thơ, Nguyễn Bính còn viết 3 tập văn xuôi, đó là  những tập Ngậm miệng, Hai người điên ở kinh thành và Không nhan sắc&#8230;  Trong tập Ngậm miệng, Nguyễn Bính đã nói rõ hơn về “mối tương tư” cô  Oanh Hà Đông, còn ở tập Hai người điên ở kinh thành là những bộc bạch về  những gì Nguyễn Bính chưa nói hết trong Hương cố nhân. Riêng cuốn Không  nhan sắc chỉ là viết để đùa ông anh ruột Trúc Đường (Nguyễn Mạnh Phác)  nhằm “phản pháo” khi ông anh viết cuốn Nhan sắc.</p>
<p>Năm 1942, Nguyễn Bính lại có tập thơ <em>Người con gái ở lầu hoa</em>,  dành tặng Tú Uyên, “địa chỉ” của nàng được nhà thơ tiết lộ:</p>
<p><em>“Nhà  nàng ở gốc cây mai trắng</em></p>
<p><em>Trên xóm mai vàng, dưới đế kinh</em></p>
<p><em>Có một buổi  chiều qua lối ấy</em></p>
<p><em>Tôi về dệt mãi mộng ba sinh”</em>.</p>
<p>Nhà văn Hoàng Tấn  “giải mã”: “ Nhà nàng ở Bạch Mai (gốc mai trắng), trên xóm mai vàng  (Hoàng Mai), còn dưới đế kinh là dưới&#8230; Phố Huế!”. Hóa ra nàng Tú Uyên  ấy chính là em gái của nhà văn Nguyễn Đình Lạp (tác giả <em>Ngoại ô</em>),  tên thật là Nguyễn Thị Tuyên. Mỗi ngày đến tòa soạn, Nguyễn Bính đều  phải đi qua nhà nàng, thế rồi cứ tự hỏi:</p>
<p><em>“Ô hay, lòng cứ làm sao  ấy</em></p>
<p><em>Có phải là yêu hỡi Tú Uyên?”. </em></p>
<p><em></em>Tự hỏi như thế bởi thực ra nhà thơ  và người đẹp cũng&#8230; chưa có gì! Chỉ là “để ý” thương thầm thế thôi,  thế nhưng nàng Tú Uyên đã hiện diện trong khá nhiều bài thơ</p>
<p><em>“Nàng  Tú Uyên ơi!</em></p>
<p><em>Cả một mùa mai trắng rụng rồi</em></p>
<p><em>Cả dạo đò sen đang nở rộ</em></p>
<p><em>Bốn  mùa trơ lại một thân tôi” </em></p>
<p>(Nàng Tú Uyên)</p>
<p>hoặc: <em></em></p>
<p><em>“Đêm đã khuya  mà đường lại xa</em></p>
<p><em>Gió cuồng đổ xuống trận mưa hoa</em></p>
<p><em>Gió ơi, trời khóc hay  tôi khóc</em></p>
<p><em>Nàng Tú Uyên ơi, cực lắm mà!” </em></p>
<p>(Mơ tiên)</p>
<p>Cho đến cuối năm  1943, Nguyễn Bính vẫn không thôi “khóc” nàng Tú Uyên: <em>“Cây nào cũng  đứng bóng trưa</em></p>
<p><em>Chuông nào cũng đổ trúng giờ mười hai</em></p>
<p><em>Rừng nào cũng nở  hoa mai</em></p>
<p><em>Nơi nào cũng có hai người yêu nhau</em></p>
<p><em>Nhưng mà bất cứ ở đâu</em></p>
<p><em>riêng  tôi vẫn đắp mối sầu thành non</em></p>
<p><em>Vẫn hằng khóc phấn than son</em></p>
<p><em>Vì trong thiên  hạ không còn Tú Uyên”</em></p>
<p>(Trường hận ca).</p>
<p>Cuối năm 1943, Nguyễn Bính “hành phương Nam”, nơi đất khách quê người  này trái tim đa tình kia lại thổn thức bởi một “đôi mắt nhung”. Đó là  một cô gái có gốc gác hoàng tộc: Tôn Nữ Hoàng Trân. Nàng đẹp, nhất là  đôi mắt như có hấp lực khiến cho thi sĩ cẩn bút: <em></em></p>
<p><em>“Bao năm đi giữa  kinh thành</em></p>
<p><em>Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi</em></p>
<p><em>Cả kinh thành có những  ai?</em></p>
<p><em>Cả kinh thành có một người mắt nhung”</em></p>
<p><em> </em>(Đôi mắt nhung)</p>
<p>Nàng Tôn  Nữ cũng biết làm thơ, cho nên ít lâu sau trên tờ Đàn Bà của Thụy An  (xuất bản ở Hà Nội) người ta thấy xuất hiện nhiều bài thơ đối đáp giữa  Nguyễn Bính và Tôn Nữ Hoàng Trân. Tuy nhiên, mối tình này chỉ được một  thời gian ngắn, rồi thì:</p>
<p><em>“Người ngọc trao tay mảnh quạt vàng</em></p>
<p><em>Mở lòng  một buổi gió thu sang</em></p>
<p><em>Tình yêu không cứ mùa mưa nắng</em></p>
<p><em>Những tưởng muôn  năm Phượng sánh Hoàng&#8230;</em></p>
<p><em>Nào ngờ duyên số vốn chia phôi</em></p>
<p><em>Quạt ước còn  đây, hẹn lỡ rồi</em></p>
<p><em>Ai biết tình anh khi khép lại</em></p>
<p><em>Cũng là mảnh quạt cuối thu  thôi&#8230;”.</em></p>
<p>Rồi Nguyễn Bính trẩy đi Hà Tiên, ghé thăm cặp tri kỷ Đông Hồ &#8211; Mộng  Tuyết. Tại đây nhà thơ đã có những ngày thật thơ mộng bên cô gái gốc  Minh hương (những người gốc Hoa, theo phong trào “phản Thanh, phục Minh”  phiêu dạt qua Việt Nam &#8211; NV), cháu ruột của nữ sĩ Mộng Tuyết, tên là  Ngọc (chi tiết này đã được nhắc tới trong bài Từ gác Nam Phong đến bài  thơ Xóm Rẫy kỳ trước)&#8230; (Còn tiếp).</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Hà Đình Nguyên / Báo Thanh niên<br />
</strong></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/nhung-bong-hong-trong-doi-tho-nguyen-binh/2010/03/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay  Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 27 Feb 2010 05:58:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=428</guid>
		<description><![CDATA[1. Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay

Người ta đã bàn luận nhiều về đề tài:”Thế nào là một bài Thơ hay?”. Người thích bài này, kẻ ưa bài kia, thật khó mà định nghĩa thế nào là một bài Thơ hay, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đồng ý Thơ là tuyệt đỉnh của Văn chương, Thơ ít chữ nhưng nói nhiều hơn văn xuôi và vì vậy không phải ai cũng làm được một bài thơ hay, dù có nhiều kẻ suốt đời nặng lòng với Thơ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> Thử  		  		Tìm Hiểu Thế  		  		Nào Là Một  		Bài Thơ  		Hay</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><em> Xuân Vũ</em></strong><em> <strong>Trần Ðình Ngọc</strong></em></p>
<p>1. Thử  		Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay</p>
<p><strong> N</strong>gười  		ta đã bàn luận nhiều về đề tài:”Thế nào là một bài Thơ hay?”. Người  		thích bài này, kẻ ưa bài kia, thật khó mà định nghĩa thế nào là một bài  		Thơ hay, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đồng ý Thơ là tuyệt đỉnh của  		Văn chương, Thơ ít chữ nhưng nói nhiều hơn văn xuôi và vì vậy không phải  		ai cũng làm được một bài thơ hay, dù có nhiều kẻ suốt đời nặng lòng với  		Thơ.</p>
<p>Người viết bài này hoan nghênh tất cả các bài Thơ do nhiều tác giả khổ  		công sáng tác, chỉ không hoan nghênh những bài Thơ dùng từ rất kêu nhưng  		xét giá trị từng câu, toàn bài thấy vô nghĩa.</p>
<p>Vâng, nó vô nghĩa! Có nghĩa là người đọc không hiểu tác giả bài Thơ muốn  		nói lên cái gì, ám chỉ cái gì, hoặc gởi gấm cái gì trong những hàng chữ  		kia. Có thể những ông, bà tác giả đó nguỵ biện rằng người đọc không đủ  		trình độ hiểu Thơ của họ. Nói như thế với một em bé trình độ tiểu học  		thì có thể chứ với những người đã có trình độ Ðại học VN hoặc đã có làm  		Thơ thì đúng là nguỵ biện và quá cao ngạo, kiêu căng.</p>
<p>Ðể tôi kể bạn nghe một giai thoại về Thơ. Có một ông nhà thơ ở miền Nam  		trước 1975, sau đó sang hải ngoại, làm được một số bài thơ và được bè  		bạn cũng có, tự ông ta cũng có, dùng ống đu đủ thổi lên như hàng Thi  		vương, Thi bá, độc nhất vô nhị. Có một người quen ông ta, một bữa lấy 4  		câu thơ của ông ta ở mấy chỗ khác nhau, cho một cái tựa và đặt liền vào  		nhau như một bài thơ. Người này , nhân lúc trà dư tửu hậu đem ra , nói  		là thơ mới làm, nhờ ông ta nhuận sắc dùm. Ông ta đọc xong bài thơ, hét  		toáng lên rằng:”Thơ gì vô nghĩa thế này ? Tao không biết mày định nói  		cái gì ? Vứt thùng rác cho rồi !” Người bạn lúc đó mới ôn tồn nói:”Thưa  		thi hào, chính là thơ của đại gia đấy !”Nhà thơ vẫn không tin và người  		bạn phải lấy cuốn Thơ của ông ta xuất bản ra chỉ vào những câu ông đã  		trích. “Ðại thi hào” ngồi ngẩn tò te ra, mắc cở . Vậy mà lâu nay có ai  		nói cho ông ta biết đâu hoặc có nói, ông ta cũng không chịu nhìn nhận  		một sự thực.</p>
<p>Về định nghĩa thế nào là một bài thơ hay. Nếu trả lời cho đầy đủ kèm  		theo những dẫn chứng thì có thể phải cả cuốn sách mới đủ. Nhưng tôi chỉ  		sơ lược mấy điểm chính để các bạn chưa từng làm Thơ hoặc có ý định sẽ  		vào làng Thơ, nắm được thế nào là một bài thơ hoặc câu thơ hay.</p>
<p><strong> LỜI HAY, Ý ÐẸP, TRUYỀN CẢM</strong></p>
<p>Lời thơ trong sáng, tự nhiên, không cố ý gọt dũa, hoặc có gọt dũa, nhưng  		người đọc không thấy, ta gọi tắt là lời hay.</p>
<p>Ý thơ hàm súc, dồi dào, gọi tắt là ý đẹp.</p>
<p>Ðọc lên thấy xúc động, nao nao, xao xuyến trong tâm hồn, tức là thơ có  		sức truyền cảm.</p>
<p>Ðó là thơ tả tình. Thí dụ: (trích truyện Kiều)</p>
<p><em> Một mình nàng, ngọn đèn khuya</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoặc:</em></p>
<p><em> Cũng liều nhắm mắt đưa chân</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thử xem con tạo xoay vần đến dâu!</em></p>
<p>Ðến như thơ tả cảnh thì đọc câu thơ lên thấy như vẽ trước mắt ta phong  		cảnh tác giả muốn phô diễn. Thí dụ:</p>
<p><em> Chim hôm thoi thót về rừng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ðoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoặc:</em></p>
<p><em> Cỏ non xanh tận chân trời</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cành lê trắng điểm một vài bông hoa</em></p>
<p>Chỉ có một ngọn đèn khuya , chiếc áo nàng đang mặc đẫm nước mắt và mái  		tóc bù rối của nàng mà người đọc tưởng tượng ra được một thiếu phụ đang  		trải qua những đau thương , cay đắng của cuộc đời. Chỉ có 14 chữ mà nói  		lên được cái tâm sự dằng dặc cả mấy trang nếu phải viết bằng văn xuôi.</p>
<p>Hai câu sau tả cảnh cũng thế. Một buổi chiều hiu hắt, u buồn, chim lặng  		lẽ về tổ, đoá trà mi cô đơn dưới ánh trăng thượng tuần. Vẫn có hoa và  		trăng nhưng hoa và trăng nhuốm vẻ tiêu điều như lòng người. Cái buồn của  		nhân vật như lây sang ta, đó chính là truyền cảm.</p>
<p>Hai câu chót là bức tranh của Claude Monet hoặc của Vincent van Gogh đưa  		tầm mắt ta ra xa đến tận chân trời, toàn mầu xanh tươi, chỉ điểm vài  		cánh lê trắng muốt.</p>
<p>Thật tài tình. Và thật thơ</p>
<p>Không chỉ trong những đọan tả cảnh, tả tình mà còn là những đoạn Mượn  		Cảnh Tả Tình, có nghĩa người đọc chỉ cần chú ý vào không gian, thời  		gian, sự vật xung quanh nhân vật mà thấy rõ được tâm sự nhân vật, cái  		rất khó tả cho đúng. Chúng ta hãy đọc lại đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”  		sau đây sẽ nhận ra điều đó:</p>
<p><em> Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bốn bề bát ngát xa trông</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tưởng người dưới nguyệt chén đồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tin sương luống những rày mong mai chờ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bên trời góc bể bơ vơ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nhớ người tựa cửa hôm mai</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Sân Lai cách mấy nắng mưa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Có khi gốc tử đã vừa người ôm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông cửa bể chiều hôm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông ngọn nước mới sa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoa trôi man mác biết là về đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Chân mây mặt nước một mầu xanh xanh</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông gió cuốn mặt duềnh</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.</em></p>
<p>Bình giải sơ lược: Sáu câu đầu tác giả tả nàng Kiều trong hoàn cảnh tồi  		tệ nhất là ở “thanh lâu” (thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần), Kiều bẽ  		bàng cho thân phận ngay cả khi ngắm áng mây buổi sớm, nhìn ngọn đèn leo  		lét ban tối. Cảnh ấy, tình này làm cho lòng nàng đòi đoạn, đứt ruột (như  		chia tấm lòng).</p>
<p>Bốn câu kế, Kiều nhớ đến Kim Trọng, người yêu đầu đời và trọn đời. Nhớ  		đến đêm trăng sáng năm xưa cùng chàng thề thốt, nay biệt vô âm tín mà  		tấm thân nhơ nhuốc này biết bao giờ gột rửa để trở nên trong sạch, xứng  		đáng với chàng?</p>
<p>Bốn câu kế:”Nhớ người tựa cửa&#8230;” Kiều nhớ cha mẹ. Không biết giờ này  		lấy ai thay mình phụng dưỡng song thân? Như ông Lão Lai ngày xưa, thấy  		cha mẹ buồn liền ra sân múa hát, làm trò hề cho cha mẹ vui cười lên mà  		khuây khoả tuổi già. Quay đi quay lại, ấy vậy mà cha mẹ trăm tuổi lúc  		nào không hay (có khi gốc tử đã vừa người ôm).</p>
<p>Tám câu sau cùng tả cảnh nhưng là cảnh có tâm hồn người hàm chứa trong  		đó: cửa bể, con thuyền, ngọn nước, hoa trôi, bèo dạt&#8230; trong khi tạo  		vật vẫn vô tình với nỗi buồn của con người:” Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh  		ghế ngồi”</p>
<p>Hoặc như trong “Cung Oán Ngâm khúc”:</p>
<p><em>Cầu Thệ thủy ngồi trơ cổ độ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quán Thu phong đứng rũ tà huy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Phong trần đến cả sơn khê</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tang thương đến cả hoa kia, cỏ này!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tuồng huyễn hoá đã bày ra đấy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Kiếp phù sinh trông thấy mà đau</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trăm năm còn có gì đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!</em></p>
<p>Nơi bến đò xưa, cây cầu bắc trên dòng nước chảy không ngừng vẫn “trơ mặt  		với phong sương”, cũng như cạnh đó, quán trống, trong nắng chiều yếu ớt,  		gió thu lạnh lẽo hun hút thổi làm cảnh trí càng thêm tiêu sơ. Nàng cung  		nữ, vì nhớ đến thân phận hẩm hiu của mình, nhìn hoa cỏ, núi sông đều  		thấy một mầu tang thương. Tất cả do “Tạo hóa đành hanh quá ngán” bày ra  		và rốt cuộc kiếp người trôi nổi chỉ còn lại một nấm cỏ khâu xanh rì!</p>
<p><strong>ÂM ĐIỆU, TIẾT TẤU</strong></p>
<p>Nhiều nhà ngôn ngữ học quốc tế sau khi nghiên cứu về tiếng Việt đã cho  		rằng tiếng Việt khi nói có âm điệu như hát (singing language).</p>
<p>Sở dĩ có được kết luận đó vì tiếng Việt có các thanh bằng, trắc khác  		nhau nên khi nói, các từ ngữ lên xuống theo các thanh cho âm điệu và  		tiết tấu.</p>
<p>Thi sĩ tiếng Việt khi làm thơ lại càng cần phải để ý đến các thanh bằng  		trắc này để cho bài thơ có âm điệu tiết tấu hay, dễ đọc và quyến rũ.  		Chính bởi thế thơ có niêm luật, niêm là dính, luật là những chữ phải  		bằng hay phải trắc hay phải hợp vận.Thí dụ hai câu lục bát:</p>
<p><em>Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần) trắc bằng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thành Tây có cảnh Bích câu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cỏ hoa họp lại một bầu xinh sao</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đua chen thu cúc, xuân đào</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông!</em></p>
<p>Những chữ 1,3,5 (nhất, tam, ngũ) bất luận, luật là bằng nhưng có thể  		trắc, và ngược lại.(Vì bài này không chủ trương dạy cách làm thơ, quí  		bạn đọc muốn nghiên cứu tường tận hơn về niêm, luật bằng trắc, vận có  		thể đọc trong sách Việt Nam Văn học sử yếu của GS Dương quảng Hàm hoặc  		các sách Văn học sử khác.).</p>
<p>Người làm thơ cần đặc biệt chú ý đến vần vì nếu thơ không có vần (hợp  		vận), sẽ không được gọi là thơ, sẽ chỉ như văn xuôi được cắt ra những  		đoạn 6 hoặc 7, 8 chữ v.v&#8230;. Có người đã ví một cách ngộ nghĩnh là thơ  		không vần như mặc quần không áo, nó thiếu phần quan trọng để thành những  		câu thơ như tác giả của nó mong muốn. Hơn nữa, vần dùng tài tình cho  		người đọc thơ thấy tài của tác giả mà không phải ai cũng có thể làm  		được. Những bài thơ nổi tiếng thường là những bài thơ vần được sử dụng  		chặt chẽ, khít khao và tài tình.</p>
<p>Thí dụ: Bản dịch “Lầu Hòang Hạc” của Tản Đà tiên sinh từ nguyên tác  		Hòang Hạc lâu của Thôi Hiệu:</p>
<p><em> Hạc vàng ai cỡi đi đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mà nay Hòang Hạc riêng lầu còn trơ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hạc vàng đi mất từ xưa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hán Dương sông tạnh, cây bày</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quê hương khuất bóng hòang hôn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!</em></p>
<p>Thơ tự do không bắt buộc phải có vần nhưng cũng cần vần khi có thể để  		cho câu thơ nổi nang hơn, có chất thơ hơn. Còn thơ mới, vần chữ cuối câu  		hay cước vận, bắt buộc phải có vận, hợp vận</p>
<p>Thí dụ:</p>
<p><em> Nào còn đâu những đêm vàng bên bờ suối </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những chiều mưa chuyển động bốn phương ngàn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những bình minh cây xanh nắng gội</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng&#8230;</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> (Hổ nhớ rừng &#8211; Thế Lữ)</em></p>
<p>Hoặc một đọan đầu trong bài “Nắng Quê Hương” của tác giả bài này:</p>
<p><em> Em sang đây mang giùm anh chút nắng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nắng Sàigòn &#8211; Hànội &#8211; Nắng Quê Hương</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nắng ngày xưa em nhặt ở sân trường</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đem hong gió Thu vàng hay ép sách. </em></p>
<p><strong> TÓM TẮT </strong></p>
<p>Một bài Thơ hay phải hội đủ ba yếu tố: Lời hay, Ý đẹp, và Truyền cảm. Có  		cả ba yếu tố thiết yếu này, người ta gọi tắt là một bài thơ hay, một bài  		thơ có hồn. Khi thi sĩ cảm hứng, tứ thơ tuôn tràn, hồn thơ lai láng.  		Chính kẻ viết bài này, có nhiều lần bút không kịp ghi tứ thơ trên giấy,  		phải dùng những chữ viết tắt mà chính tác giả mới đọc được, ghi vội ra  		vì nếu để giây phút đó qua đi, sẽ không thể hoặc khó có thể làm được bài  		đã định. Sau giây phút “xuất thần” đó, bây giờ mới thong thả coi lại bài  		thơ từ đầu tới cuối và chỉnh những từ không vừa ý. Thường chỉ chỉnh sơ  		sài, dăm ba từ bị thay thế cho thích hợp, nhưng cái cốt lõi đầu tiên,  		cái khung, cái hồn của bài thơ thì không bao giờ thay đổi, bởi nó đã hay  		hoặc vừa ý (với chính nhà thơ.)</p>
<p>Thi sĩ phải có hứng sáng tác, thơ mới hay. Hứng là cái sáo diều hoặc sợi  		dây đàn treo trong không gian, một làn gió nhẹ thổi qua đủ làm nó phát  		ra thanh âm. Tâm hồn thi sĩ cũng ví như cái sáo hoặc sợi dây đàn đó, một  		ý tưởng mới, một cảm nghĩ mới, một sự việc mới xảy ra trước mắt khiến  		nhà thơ muốn dùng bút ghi lại sự việc hoặc những cảm nghỉ của mình trong  		khi người không có tâm hồn thi sĩ, không để ý tới sự việc xảy ra, cũng  		không có những cảm nghĩ mà nhà thơ có. Ðó chính là “Cái sáo hoặc sợi dây  		đàn” của thi sĩ. Nó vô cùng bén nhạy nên thi sĩ mới có hứng thơ. Với nhà  		văn, hứng viết văn cũng tương tự thế. Do đó, chúng ta phân biệt hai  		loại, nếu ghi thường: văn xuôi; nếu ghi có vần điệu tiết tấu: Thơ. Cả  		hai đều là văn chương, tuy co những nét đặc thù khác hẳn nhau.</p>
<p>Ðể làm rõ nét cái hứng của thi nhân, chúng tôi xin đưa ra trường hợp Thi  		sĩ Ôn như hầu Nguyễn gia Thiều.</p>
<p>Tất cả chúng ta nhìn các cung nữ thời xưa, lúc son trẻ được nhà vua vời  		vào cung làm cung phi đều là chuyện bình thường bởi vua có quyền sinh  		sát toàn dân. Vua muốn là Trời muốn vì vua là Thiên tử, con Trời. Riêng  		tác giả “Cung oán ngâm khúc” lại có cái nhìn khác. Thi nhân nghĩ chỉ vì  		phải phục vụ cho những sắc dục tham lam, bất chính của nhà vua mà các  		cung nữ này bị giam trong cung cấm, uổng phí cả một đời thanh xuân khi  		nhà vua chỉ dùng các nàng cho một đêm vui rồi không bao giờ đoái hoài  		tới nữa làm nhiều cung phi chết già trong cung cấm. Nhà vua, sau khi  		thoả mãn, ân ái một đêm, lại đi tìm những bông hoa hương sắc khác để tủi  		hổ, bẽ bàng, đau khổ cho hàng trăm, hàng ngàn cung phi mà họ không biết  		kêu cứu vào đâu được.(Ngán thay cái én ba nghìn). Từ đó thi nhân viết  		cuốn “Cung oán ngâm khúc” để thay cho các cung phi nói lên nỗi lòng đòi  		đoạn nơi cung cấm, may ra tiếng nói có thấu đến cửu trùng, các nàng được  		giải thoát khỏi cuộc sống tối tăm, chết dần, chết mòn, được trở về nơi  		thôn dã sống với gia đình và biết đâu lại có được một tấm chồng để nương  		tựa suốt cuộc đời còn lại.</p>
<p>Vì đặt mình vào hoàn cảnh các cung phi bị thất sủng, thi nhân đã cực tả  		được những đau xót của các cung phi:</p>
<p><em> Trải vách quế gió vàng hiu hắt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Oán chi những khách tiêu phòng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mà xui phận bạc nằm trong má đào&#8230; </em></p>
<p>Trở lại ý hướng mượn cảnh tả tình của thi nhân, chúng ta hãy đọc lại hai  		bài thơ (Đường luật) sau đây, của Bà huyện Thanh Quan và Cụ Nguyễn  		Khuyến:</p>
<p><strong><em> CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Gác mái ngư ông về viễn phố </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Gõ sừng mục tử lại cô thôn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Dặm liễu sương sa khách bước dồn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ </em></p>
<p><em> Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ! </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> THU ÐIẾU</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ao thu lạnh lẽo nước trong veo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Sóng biếc theo làn hơi gợn tí</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em> Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngõ trúc quanh co khách vắng teo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tựa gối ôm cần lâu chẳng được</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cá đâu đớp động dưới chân bèo.</em></p>
<p>Hai bài thơ này cùng làm theo thể Ðường luật, thơ bảy chữ tám câu, rất  		phổ thông từ đầu thế kỷ thứ XIX. Nữ sĩ Hồ xuân Hương cũng là một trong  		những nhà thơ sử dụng thể thơ này nhiều nhất.</p>
<p>Bài “Chiều hôm nhớ nhà” có dăm tiếng Hán -Việt như: hoàng hôn, ngư ông,  		viễn phố, mục tử, chương đài, lữ thứ nhưng không phải là những chữ quá  		khó. Sáu câu đầu tả cảnh để làm nền cho hai câu cuối tả tình. Bạn để ý  		cặp câu:”Gác mái&#8230; và Gõ sừng&#8230;”; cặp “Ngàn mai&#8230; và Dặm liễu&#8230;”,  		(động tự đối với động tự, danh tự đối với danh tự) làm theo thể biền  		ngẫu nghĩa là mỗi chữ đối nhau, nét đặc thù của thơ Ðường luật. Ðọc xong  		bài thơ ta thấy tâm hồn ta cũng chìm lắng vào nỗi buồn của “kẻ chốn  		chương đài, người lữ thứ” một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm thía của hai  		tâm hồn xa nhau.</p>
<p>Như bài Thu Ðiếu, hay Mùa Thu câu cá, cặp câu “thực” và “luận”: “Sóng  		biếc&#8230;” đối với “Lá vàng&#8230;” và “Từng mây&#8230;” đối với “Ngõ  		trúc&#8230;”.Toàn bài không có một chữ Hán, một điển cố, vẽ ra bức tranh thu  		êm đềm, tịch mịch trong đó chỉ có một động vật duy nhất là nhà thơ đang  		thả hồn vào thiên nhiên với lá vàng rơi rụng, với từng mây xanh ngắt,  		với ngõ trúc quanh co. Tất cả đã toát ra mùi vị Thiền và bức tranh:” Vạn  		vật đồng nhất thể” vô cùng sâu sắc.</p>
<p>Hai bài thơ trên, cùng một số bài thơ khác của hai tác giả này và nhiều  		tác giả khác như Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát, Hồ xuân Hương v.v…đã được  		đa số chúng ta học thuộc lòng từ hồi còn ngồi lớp 8, lớp 9 trong phần Cổ  		văn.</p>
<p>Tuy nhiên, vì thơ Đường luật phải tuân theo niêm, luật, vần và biền ngẫu  		như thế nên từ thế hệ 1932, các nhà thơ đã than là thể thơ này quá khó  		so với những thể thơ lục bát, song thất lục bát, nhất là thơ mới và thơ  		tự do ra đời trong khỏang thời gian đó. Các cụ nói:” Khó cho thiên hạ  		đến bao giờ&#8230;” để nói về thể thơ Đường luật này. Hơn nữa, khi phải diễn  		tả một tình cảm phức tạp, dài dòng thơ Đường không đáp ứng nổi như song  		thất lục bát và lục bát.Và cũng kể từ đó, các thể thơ tự do, thơ mới 8,  		9 chữ hay thơ 7 chữ, mỗi đọan bốn câu, gồm nhiều đọan, vần cuối ở các  		câu 1, 2, và 4 rất được thịnh hành. Thể thơ Đường chỉ còn thấy thưa thớt  		nơi các cụ đồ nặng lòng với thơ cổ khi xưa và những tác giả không thích  		thơ mới. Cũng nên lưu ý, thơ mới có âm điệu, tiết tấu và cách diễn tả  		hùng mạnh mà thơ Đường không thể. Thơ tự do cho người làm thơ diễn đạt ý  		tưởng không giới hạn nhưng cũng không phải dễ để sáng tác một bài thơ tự  		do hay.</p>
<p>Để có một cái nhìn xuyên suốt về Thơ, nguyên tắc chung cho hầu hết các  		môn khoa học là: hợp lý = dễ hiểu = dễ nhớ, dù là toán học hay nhân văn.  		Từ những bài thơ cổ này, chúng ta cũng suy ra, để hiểu thơ cũng như để  		sáng tác thơ, chúng ta cần một ít chữ Hán-Việt, hiểu nghĩa và cách sử  		dụng chúng mới dễ quay trở khi làm thơ.</p>
<p><strong> A-THƠ HAY RẤT DỄ THUỘC DỄ NHỚ</strong></p>
<p>Từ đó ta thấy, thơ hay là thơ có thể học thuộc lòng một cách dễ dàng.  		Một học sinh có trí nhớ trung bình chỉ cần ngâm nga hai bài thơ của cụ  		Nguyễn Khuyến và bà huyện Thanh Quan nói ở trên vài lần là thuộc lòng.  		Thơ đọc trúc trắc, khó hiểu, vô nghĩa, không dễ dàng học thuộc, chắc  		chắn không phải thơ hay. Cũng nên lưu ý, thơ đọc trúc trắc chính vì tác  		giả của nó không am tường luật bằng trắc hoặc không sử dụng đúng qui  		luật bằng, trắc và vần.</p>
<p>Ðể kiểm chứng điều này, quí bạn đọc thử nhớ tên một nhà thơ, ông A, bà B  		v.v…cố nhớ lấy một bài thơ hay vài câu thơ của họ mà quí vị đã đọc, xem  		có thuộc được bài nào không, câu nào không. Không có, ấy là thơ ra sao  		quí vị đã biết. Nhưng có nhiều tác giả thời nay lại nghĩ cứ làm thơ khó  		hiểu, tối nghĩa hay vô nghĩa, cao kỳ, dùng những từ cho kêu là được quần  		chúng ái mộ. Sự thực không phải thế. Thơ kêu nhưng rỗng thì không khác  		một cái thùng phuy, càng rỗng càng kêu to.</p>
<p>Trước đây, rất nhiều người, ngay cả ở nông thôn Việt nam, đã học thuộc  		lòng Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, Nhị Ðộ Mai, Cung oán  		ngâm khúc, Tì bà hành, Trinh thử, Trê cóc, Ngư tiều vấn đáp, Lục súc  		tranh công, Bích câu kỳ ngô v.v…lúc rảnh rang, đọc vanh vách cho nhau  		nghe dù có nhiều người không có sách hoặc không biết chữ, chỉ học lóm  		bạn bè. Sở dĩ họ thích, họ say mê vì lời Thơ gần gũi với họ, tả cái tâm  		lý chung của họ hay người xung quanh họ như Jacques Prévert, một Thi sĩ  		Pháp có viết:” Ðọc Thơ lại thấy có mình ở trong” cũng là ý nghĩa đó.  		Người nông dân học thuộc lòng dễ dàng như vậy vì những câu Thơ này giản  		dị, dễ hiểu, hợp lý, vần vò. Chính bởi thế, nguời ta còn gọi Thơ là văn  		vần để phân biệt với văn xuôi.</p>
<p>Trước 4-1975, ở miền Nam Việt Nam, có một số tác giả làm Thơ đăng trên  		các báo, tạp chí, nguyệt san, cả những nguyệt san được coi là thời  		thượng, nổi tiếng lúc đó mà nguời viết không tiện hài tên, bạn bè những  		tác giả này cũng ca tụng họ hết mình như hàng thi bá (một nhược điểm của  		giới làm Văn học Nghệ thuật cận và hiện đại, hay dở gì khen bừa); nhưng  		bây giờ hỏi còn ai nhớ được một bài Thơ của họ hoặc ít nhất là tinh thần  		những bài thơ đó không ? Chúng nói lên cái gì? Chúng ca tụng hay đả phá  		cái gì? Ðủ biết Thơ phải gần gũi với dân gian mới có thể tồn tại với  		thời gian. Thơ xa rời thực tế là chỉ để trang điểm nhất thời, dù Thơ bác  		học (Hán văn), cao xa đi nữa.</p>
<p><strong> B-PHẢI GÂY ÐƯỢC SỰ XÚC ÐỘNG</strong></p>
<p>Thơ là văn xuôi đã gạn lọc, cô đọng lấy phần tinh tuý sâu sắc của văn  		chương nên Thơ phải súc tích và truyền cảm nghĩa là gây được sự xúc  		động, xao xuyến từ tác giả sang người đọc.</p>
<p>Người đọc phải có được sự rung động của tác giả , dù cường độ kém hơn,  		mới được gọi là thơ hay. Thơ đọc lên trơ trơ trích trích, không chuyển  		động được một “thớ thịt đường gân” nào của người đọc, đó là Thơ kém giá  		trị. Ngưòi ta đọc Chinh phụ ngâm mà tưởng rằng mình là người chinh phụ,  		có chồng sắp ra ngoài quan ải đánh giặc, giữ nước. Người ta đọc Cung Oán  		mà cứ ngỡ mình là người cung phi bị thất sủng, nhà vua không đoái hoài  		tới.</p>
<p>Ðó là sự thành công của tác giả.</p>
<p><strong> C-THƠ PHẢI NÓI LÊN MỌI KHÍA CẠNH CỦA ÐỜI SỐNG</strong></p>
<p>Ðành rằng Thơ tình ái là loại Thơ nhiều người làm, nhiều người đọc nhất  		và cũng dễ làm hơn nhiều loại khác, nhưng một tác giả cả đời chỉ viết  		được những bài thơ tình ái hoặc ca tụng đàn bà như nhà thơ Ðinh Hùng là  		một (Ðường vào Tình sử, chính ông thú nhận), thì chưa thể gọi được là đã  		quán xuyến về Thơ.</p>
<p>Hầu hết những bài Thơ hay của những tác giả như Nguyễn bỉnh Khiêm,  		Nguyễn công Trứ, Trần tế Xương, Cao bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn  		Khuyến, Nguyễn Du, Tản Ðà, Nguyễn Trãi v.v…đều là Thơ về Thiền, Thơ yếm  		thế, luận bàn thế sự, nhân tình thế thái, Thơ đạo lý, triết lý cuộc đời,  		thơ nhàn v.v… mà rất ít hoặc không có Thơ tình.</p>
<p>Nguyễn Du tả Kiều trong thanh lâu, Kiều tiếp khách, Kiều tắm… vì Kim Vân  		Kiều là một cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du phỏng theo cốt truyện của một tác  		giả Trung hoa (Thanh Tâm tài nhân) trước tác ra và đặt tên là Ðoạn  		trường Tân Thanh. Là tiểu thuyết, vả lại trung thành với nguyên tác,  		Ðoạn trường Tân Thanh cần phải có đủ tình tiết, hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố,  		dục, người đọc mới thấy hết được những khiá cạnh của nhân vật chính  		trong truyện. Chứ không phải ông có ý tả chân để khiêu dâm như một số  		người đã gán cho ông (Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế: ai, dâm, sầu oán,  		đạo, dục, tăng, bi) hay như Nguyễn công Trứ: “Bán mình trong mấy mươi  		năm, Ðố đem chữ hiếu mà lầm được ai.”)</p>
<p>Quan niệm coi Kim Vân Kiều là một cuốn tiểu thuyết dâm ô đã quá lỗi  		thời. Trái lại người ta có thể tìm trong đó những vần thơ bất hủ được  		lưu truyền mãi mãi. Chúng ta chỉ nên coi Kiều là một tác phẩm văn chương  		mà thôi. Càng không nên đưa Kiều ra làm mẫu mực về đạo đức, luân lý (như  		có tác giả đã làm) mặc dù nhân vật Kiều rất nhân bản, chứa đựng đầy đủ  		tâm lý của con người bình thường.</p>
<p>Theo thiển ý, chỉ có một điều tiếc: Nguyễn Du không sáng tác mà nhờ vào  		một cốt truyện Tàu, dĩ nhiên thuộc thời đại vua Tàu, nhân vật Tàu, phong  		tục, văn hóa Tàu&#8230;, tuy cũng tương cận với chúng ta nhưng không thể  		bằng tất cả đều là Việt Nam.</p>
<p><strong>D-CUỘC ÐỜI: ÐỀ TÀI VÔ TẬN CHO THI NHÂN</strong></p>
<p>Cõi nhân sinh này còn rất nhiều điều cần đến nhà thơ, nhà văn ghé mắt  		đến. Nào là tôn giáo, gia đình, xã hội, đất nước, quê hương, dân tộc, tự  		do, dân chủ, bình đẳng, nào là công bằng, bác ái, vị tha, hi sinh cứu  		giúp kẻ khốn cùng… Ngay như thiên nhiên, cây cỏ, thú vật, chim muông,  		gia cầm, gia súc cũng là những đề tài vô tận.</p>
<p>Học giả Phạm Quỳnh trong báo Nam Phong xuất bản năm 1921 có viết:”&#8230;Làm  		một bộ tiểu thuyết, cốt là đặt cho hay, viết cho khéo, cho người đọc có  		hứng thú, &#8230;có lẽ ở những nước văn minh có thể nghĩ như thế được; nhưng  		ở những dân còn bán khai như dân ta thời văn chương rất là quan hệ cho  		đời lắm, nhà làm văn có cái trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho  		quốc dân, nếu làm sai trách nhiệm ấy thời dẫu văn chương hay đến đâu  		cũng có tội với quốc gia, với danh giáo vậy. Các nhà tiểu thuyết ta há  		không nên cẩn thận lắm ru?” (Hết trích)</p>
<p>Tác giả Tô Hoài thời tiền chiến chỉ tả mấy con dế mèn phiêu lưu mà cũng  		được học sinh đua nhau đọc, nổi tiếng một thời. Vậy không phải chỉ Thơ  		tình ái mới ăn khách. Yêu đương, nhớ nhung, dang dở, chia phôi …chỉ bấy  		nhiêu, không phải lúc nào độc giả cũng “tiêu hoá “được. Viết lắm sẽ  		nhàm. Cứ một loại Thơ đó chỉ chứng tỏ tác giả không thể viết và nghĩ đa  		dạng mà thôi. Có nghĩa là tác giả không đủ tài. Mà cuộc đời hiện đại lại  		quá đa dạng, đa phương. Sự biến hoá của cuộc đời làm ta chóng mặt. Một  		vị Tổng Thống Mỹ, ông Franklin Roosevelt bảo với mọi người, trước khi  		ông đọc diễn văn trước quốc dân:” Vỗ tay nhiều không có nghĩa là diễn  		văn hay” Ta cũng có thể lấy câu đó áp dụng cho một số tác giả trước đây  		ở miền Nam và ngày nay ở hải ngoại, thơ, văn rất nghèo nàn nhưng bè bạn,  		theo cái mốt, dùng ống đu đủ thổi phồng và vỗ tay quá lố. Và đó cũng là  		lý do làm mất niềm tin của đa số độc giả có trình độ.</p>
<p><strong>Đ-LÀM THƠ PHẢI TUÂN THEO NIÊM LUẬT, BẰNG TRẮC</strong></p>
<p>Ngoại trừ Thơ tự do, không cần vần, không niêm luật bằng trắc, không  		giới hạn số câu, số chữ trong câu (Xin đọc bài Thương tiếc Columbia của  		người viết bài này), còn các thể thơ khác như lục bát, song thất lục  		bát, ngũ ngôn, thất ngôn (Ðường luật), Thơ Mới … đều phải theo luật Thơ  		(vần, bằng trắc) Thơ mới hay. Vần dùng gượng ép, mất hay một phần. Chữ  		đúng ra phải vần mà không vần, không hay.</p>
<p>Ngoài ra, cũng để nhắc lại, cách dùng chữ, gieo vần thật quan trọng. Có  		nhiều từ kép, cụm từ có thể dùng xuôi ngược sao cũng cùng nghĩa. TD: đớn  		đau hay đau đớn, trôi nổi hay nổi trôi, phiền muộn hay muộn phiền, nghĩa  		đều như nhau. Nhưng không thể viết xa xót thay vì xót xa, loài lạc thay  		vì lạc loài, nhiên tự thay vì tự nhiên v.v&#8230; Những chữ bị đảo ngược như  		vậy hoặc có nghĩa khác hoặc vô nghĩa. Cần nhất là tránh làm Thơ vô nghĩa  		hoặc tối nghĩa dù đọc lên đầy hán tự có vẻ bác học.</p>
<p><strong>E-Ý QUAN TRỌNG HƠN LỜI</strong></p>
<p>Ðiều chót, dù còn nhiều điều chưa nói do giới hạn của bài này. Nếu ta  		không thể thoả mãn được cả hai phương diện hiệp vận (vần) và ý thì nên  		dùng chữ nào cho rõ ý còn hơn là dùng chữ hiệp được vần mà ý sai lạc  		hoặc vô nghĩa. TD: Bốn câu của cụ Yên Ðổ.</p>
<p><em>Cũng có lúc chơi nơi dặm khách</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Có khi từng gác cheo leo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang</em></p>
<p>Tất cả đều hiệp vận ngoại trừ “leo” và “chiều”. Tuy nhiên, “chiều” mới  		đúng nghĩa. Nếu dùng “chèo” thì hiệp vận nhưng sai nghĩa.</p>
<p>Thí dụ khác: Bốn câu Thơ dịch của người viết bài này:</p>
<p><em>Xuân sang ngoạn cảnh xem hoa</em></p>
<p><em>Hè về hóng mát tà tà ao sen</em></p>
<p><em>Vào Thu rượu cúc êm êm</em></p>
<p><em>Ðông coi tuyết phủ, nối vần Nàng Thơ(TÐN)</em></p>
<p>Tất cả đều hiệp vận, ngoại trừ “êm” và “vần” , nhưng đúng ý nghĩa. Giả  		sử thay hai chữ “nối vần” bằng hai chữ “êm đềm” cho vần với câu trên thì  		trước nhất bị điệp ngữ êm, thứ hai “êm đềm Nàng Thơ” lại có nghĩa khác,  		không nói được cái thú ngâm Thơ, sáng tác Thơ của tác giả. (Ðông ngâm  		bạch tuyết thi). Bài thơ trên dịch từ bài thơ chữ Hán:</p>
<p><em>Xuân du phương thảo địa</em></p>
<p><em>Hạ thưởng lục hà trì</em></p>
<p><em>Thu ẩm hoàng hoa tửu</em></p>
<p><em>Ðông ngâm bạch tuyết thi</em></p>
<p>Ý nghĩa của một câu Thơ, một bài Thơ là quan trọng như vậy.</p>
<p>Một bài Thơ hay, một câu Thơ hay rất dễ nhìn ra y như một bông hoa đẹp.  		Ðâu cần phải phân tích cánh hoa làm sao, đài hoa, sắc hoa thế nào, ta  		mới biết là bông hoa đẹp.</p>
<p>Tiền nhân xưa sáng tác Thơ, vào hội Thơ, ngâm Thơ như một cái thú của  		đời người, nhất là khi về già. Không gì bằng có bạn Thơ, có giấy bút, có  		rượu, dù chỉ thanh đạm, cùng làm Thơ, cùng bàn luận về văn chương, về  		những hào khí của người xưa. Tổ tiên ta dùng Thơ để nói về mình, về  		người, dạy đời, mỉa mai những thói rởm của đời, tôn vinh những thú vui  		thanh quí, cao nhã “an bần lạc đạo” mà Thơ chính là một dụng cụ sắc bén  		và đắc dụng nhất cho các mục tiêu đó. Ta thử đọc lại một bài thơ của cụ  		Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:</p>
<p><strong><em>THƠ NHÀN</em></strong></p>
<p><em>Một mai, một cuốc, một cần câu</em></p>
<p><em>Thơ thẩn dù ai vui thú nào</em></p>
<p><em>Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ</em></p>
<p><em>Người khôn, người đến chốn lao xao</em></p>
<p><em>Thu ăn măng trúc, đông ăn giá</em></p>
<p><em>Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao</em></p>
<p><em>Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp</em></p>
<p><em>Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao!</em></p>
<p>Bài sau đây của thi hào Tản Ðà Nguyễn khắc Hiếu, làm cho vở chèo Thiên  		thai. Ðây là cảnh hai tiên nữ tiễn Lưu Thần, Nguyễn Triệu về trần:</p>
<p><strong><em>TỐNG BIỆT </em></strong></p>
<p><strong><em>Lá đào rơi rằc lối Thiên thai</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi!</em></p>
<p><strong><em>Nửa năm tiên cảnh</em></strong></p>
<p><em>Một bước trần ai</em></p>
<p><em>Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!</em></p>
<p><strong><em>Ðá mòn, rêu nhạt</em></strong></p>
<p><em>Nước chảy, huê trôi,</em></p>
<p><em>Cái hạc bay lên vút tận trời</em></p>
<p><em>Trời đất từ đây xa cách mãi</em></p>
<p><em>Cửa động,</em></p>
<p><em>Ðầu non,</em></p>
<p><em>Ðường lối cũ,</em></p>
<p><em>Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!</em></p>
<p>Dù là một huyền thoại, người đọc Thơ không khỏi bùi ngùi cho cuộc chia  		tay giữa người tiên, kẻ tục sau một thời gian ngắn chung sống. Chữ dùng  		rất thanh thoát thích hợp với cảnh tiên: lá đào, Thiên thai, đá mòn, rêu  		nhạt&#8230; cái hạc, cửa động, đầu non &#8230; và kết thúc bằng ánh trăng mơ hồ  		huyền ảo muôn đời soi bóng. Một bài Thơ tuyệt đẹp. Từ đó chúng ta suy ra  		Thơ là thơ thẩn, là mơ hồ, đôi khi xa rời thực tế. Như nhà thơ Xuân Diệu  		đã viết:</p>
<p><em>Là thi sĩ nghĩa là ru với gió</em></p>
<p><em>Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây&#8230;</em></p>
<p>Thơ là kết tụ của tình yêu, tình yêu nam nữ, vợ chồng, tình yêu thiên  		nhiên, tình yêu con người. Thơ là tự do, phóng khoáng, là sắc sắc không  		không của nhà Phật, là Vô vi, Thiền quán như Lão tử thực hành và đôi khi  		cũng cần phải yếm thế, chán cái đời sống đầy tục lụy này như Cao bá  		Quát, hay châm biếm những thói rởm, tật xấu của người đời như Trần tế  		Xương&#8230; Thơ thực quá, thô sơ quá, thơ không hay, không thoát. Nhiều bài  		không thể gọi được là Thơ mà chỉ là những bài vè dân quê truyền tụng ở  		nông thôn. Thơ lục bát tuy vậy rất khó làm, dễ trở thành bài vè ít giá  		trị. Làm được Thơ lục bát như truyện Kiều là một tuyệt tác.</p>
<p>Có nhiều bạn đọc viết thư cho người viết hỏi họ có thể sáng tác Thơ, có  		thể thành nhà thơ được không? Tiện đây, xin trả lời chung như thế này:</p>
<p>Ai cũng có thể sáng tác và trở thành thi sĩ, nếu:</p>
<p>Yêu thơ, đọc nhiều thơ, học thuộc thơ kiểu mẫu, thơ hay, chất Thơ ngấm  		vào trí óc giống như chất bổ ngấm vào thân thể, chúng giúp cho nhà thơ  		rất nhiều. Tuy vậy xưa kia đã có những người thuộc lòng cả cuốn truyện  		Kiều, cả cuốn Nhị độ Mai hay Bích câu kỳ ngộ nhưng vẫn không thể sáng  		tác Thơ.</p>
<p>Có thiên khiếu về Thơ. Có sự rung cảm, xúc động sâu xa như sợi dây đàn  		hoặc cái sáo trong không gian như đã nói ở trên.</p>
<p>Có vốn liếng nhiều về từ ngữ để sử dụng khi cần diễn dịch một ý tưởng  		thành lời nói, chữ viết, nhất là thành Thơ. Thơ tiếng Việt rất cần danh  		từ Hán &#8211; Việt.</p>
<p>Nắm vững các niêm, luật (bằng, trắc, vần) và các thể Thơ. Dùng chúng như  		những cái chìa khóa dẫn đường vào việc sáng tác Thơ.</p>
<p>Tuân theo các niêm, luật đó ngoại trừ Thơ tự do. Tuy nhiên, dù là Thơ tự  		do, nó vẫn không phải văn xuôi, vẫn cần một sự sắp xếp ý, lời và vẫn cần  		vần khi có thể cho câu thơ nhịp nhàng, cân đối.</p>
<p>Ðể bạn đọc hiểu thêm, xin nói như thế này. Có những nhà văn viết văn khá  		hay, nổi tiếng nhưng chính những nhà văn đó nói họ không thể sáng tác  		Thơ mặc dù chữ nghĩa đầy đầu.</p>
<p>Ngược lại, có những thi sĩ không thể viết truyện, viết bình luận, nghĩa  		là văn xuôi.</p>
<p>Bởi như đã nói, tuy cùng là văn chương nhưng chúng hoàn toàn khác biệt  		về phương diện sáng tác. Lại cũng khác biệt về phương diện thưởng thức.  		Cũng cần nói thêm, khi đã không có trình độ thưởng thức thì bài nào cũng  		như bài nào, vàng thau lẫn lộn, bị đánh giá như nhau. Trình độ thưởng  		thức chính là những kiến thức thu thập được trong lãnh vực Thơ, nó chính  		là những bước căn bản đầu tiên đưa đến sự sáng tác Thơ nếu có hứng sáng  		tác.</p>
<p>Luận bàn về Thơ, chục pho sách cũng không đủ nói hết. Ðể kết thúc bài  		mạn đàm thiếu sót về Thơ này, xin mời quí bạn đọc một bài Thơ lục bát  		của tác giả bài này, bài “Chiều Ba Mươi”, thơ vui Tết và bài “Nói với  		Bút” cả hai đã đăng trên nhiều báo từ năm 1978 và 1992. Bài sau tác giả  		mượn cây bút để nói lên nỗi lòng của mình.</p>
<p><strong><em>CHIỀU BA MƯƠI</em></strong></p>
<p><em>Vòng tay nhật nguyệt luân hồi</em></p>
<p><em>Đem Xuân trở lại nét môi diễm kiều</em></p>
<p><em>Lược gương từ giã cô liêu</em></p>
<p><strong><em>Nâng niu mái tóc đây chiều ba mươi</em></strong></p>
<p><em>Trẻ thơ tươi tắn nụ cười</em></p>
<p><em>Ðầu xanh, đầu bạc người người vui lây</em></p>
<p><em>Gió ngoài song, lạnh hiên tây</em></p>
<p><em>Chiều Xuân thi hứng lúc đầy, lúc vơi</em></p>
<p><em>Trong bình đào thắm, mai tươi</em></p>
<p><em>Nhìn em muốn hỏi Xuân cười lúc nao?</em></p>
<p><em>Giang tay bồng nhẹ Xuân vào</em></p>
<p><em>Môi son má phấn: Mai, Ðào hay em? </em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>NÓI VỚI BÚT</em></strong></p>
<p><em>Bút ơi ! Yêu bút thiết tha</em></p>
<p><em>Bút theo ta chạy ta bà khắp nơi</em></p>
<p><em> Mùa Xuân rừng núi rong chơi</em></p>
<p><em> Miền quê, thành thị khắp nơi ra vào</em></p>
<p><em> Hạ về bút lắm xôn xao</em></p>
<p><em> Biển giông bão nổi ào ào chớm Thu</em></p>
<p><em>Mùa Ðông bút có sương mù</em></p>
<p><em>Có đôi chim gáy gật gù sớm mai</em></p>
<p><em>Ðường đời lắm nẻo chông gai</em></p>
<p><em>Bút cùng ta luận một vài điều hay</em></p>
<p><em>Cường quyền bút chẳng run tay</em></p>
<p><em>Bút mong Dân tộc những ngày sáng tươi</em></p>
<p><em>Chán đời vẫn hé môi cười</em></p>
<p><em>Ta cùng với bút một đời bên nhau</em></p>
<p><em>Vì ta bút trải tình sâu</em></p>
<p><em>Vì ta nên bút giãi dầu nắng mưa</em></p>
<p><em>Lòng ta bút hiểu hay chưa ?</em></p>
<p>Thơ là tuyệt đỉnh, tuyệt đích của văn chương. Sáng tác Thơ khó khăn hơn  		chơi Lan, chơi Bonsai, đánh cờ tướng, uống trà v.v&#8230; vì nghề Thơ cũng  		lắm công phu, không phải chỉ thích Thơ rồi nhảy vào làm Thơ mà Thơ hay  		được. Tuy nhiên, nếu đã có hồn Thơ tức dễ xúc động trước những biến đổi,  		nghịch cảnh của cuộc đời, rồi trau dồi kĩ năng về Thơ, làm nhiều bài Thơ,  		nghe ý kiến trung thực của bạn đọc và thân hữu, nhất là những người sành  		Thơ thì việc sáng tác Thơ cũng tiến bộ vậy.</p>
<p><em> Trích từ</em></p>
<p><em> http://vantuyen.net/</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử và sự nghiệp văn học : Lan Khai một đời mệnh bạc</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 19 Feb 2010 15:30:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu sử và sự nghiệp văn học : Lan Khai một đời mệnh bạc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=426</guid>
		<description><![CDATA[Lan Khai sinh năm Bính Ngọ 1906, vào buổi trưa hè ngày 24/6, trong một căn nhà lá 3 gian vách gỗ tại xã Vĩnh Lộc (nay là thị trấn Vĩnh Lộc) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi, 39 năm hưởng dương, ông đã [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Lan Khai sinh năm Bính Ngọ 1906, vào buổi trưa hè ngày 24/6, trong một căn nhà lá 3 gian vách gỗ tại xã Vĩnh Lộc (nay là thị trấn Vĩnh Lộc) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi, 39 năm hưởng dương, ông đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm 50 cuốn sách của các thể loại.</p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Giờ, theo hành trình gió sương mưu sinh của những người con, di ảnh ông lại được đưa về hưởng nhang tại một góc phố chợ nơi thị xã miền biên viễn Hà Giang. Đây là câu chuyện tôi ghi lại về ông từ trí hồi tưởng của người con trai còn lại duy nhất, gắn bó với ông nhất và có lẽ là đứa con ông yêu nhất: Ông Lan Phương.</span></p>
<p><strong><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Thanh bần mà đồ sộ</span></strong></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Những người cùng thời và hậu thế sau này yêu thích văn chương của Lan Khai đều nghĩ rằng ông là người miền núi, cho ông là nhà văn &#8220;đường rừng&#8221;. Thế nhưng thực tế nguồn gốc xuất thân của ông không hẳn như vậy. Huyết thống để tạo dựng nên con người ông lại thuộc hàng trâm anh thế phiệt, họ Nguyễn, gốc Đàng trong, thuộc phủ Thừa Thiên &#8211; Huế.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, cha ông là Nguyễn Đình Chức &#8211; người vì hưởng ứng phong trào Cần Vương đã chạy từ Huế ra Hương Sơn (Hà Tĩnh) tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng. Khi căn cứ Ngàn Trươi tan rã, tướng quân Phan Đình Phùng ra đi, ông Chức do dấn thân và đóng góp nhiều quá cho cuộc khởi nghĩa này nên đã phải chạy lên tận miền sơn cước Vĩnh Lộc, Chiêm Hóa để náu thân. Tại nơi sơn lam chướng khí này, ông đã chọn nghề dạy học, bốc thuốc để mưu sinh và để đức cho đời.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Do đức tín của nghề thuốc và nghề thầy, lại thêm tinh thần nghĩa sỹ vốn cuộn chảy nên ông Nguyễn Đình Chức nhanh chóng trở thành người có uy tín trong vùng và được một gia tộc bề thế trên đây gả cho cô con gái yêu của mình là Lê Thị Thục. Sự giao duyên giữa 2 con người thuộc loại &#8220;trai anh hùng, gái thuyền quyên&#8221; đã cho ra đời ông Nguyễn Đình Khải, nhà văn nổi tiếng Lan Khai sau này.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai là người thông tuệ. Người ta đồn rằng cha mẹ ông cho ông cắp sách đến đâu học ông cũng nhanh chóng &#8220;lấy được hết chữ&#8221;, &#8220;lấy được hết kiến thức&#8221; của người dạy mình, đó là còn chưa kể đến tài vẽ vời, làm thơ, viết văn của ông. Ấp ủ những điều chưa làm được cho đời của mình, coi chữ nghĩa và kiến thức là trên hết nên cha ông đã bạo gan đưa ông xuống Trường Bưởi để học. Đây là một việc làm táo bạo, hết lòng vì con của cha mẹ ông. Vì ngày ấy, ở nơi heo hút, nghèo khó như Tuyên Quang, một gia đình giáo viên kiêm nghề bốc thuốc như ông Chức mà dám đem tiền đưa con xuống Hà Nội học là chuyện &#8220;lạnh người&#8221;.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Học xong Trường Bưởi, năm 18 tuổi ông thi đỗ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, một trường có tiếng của chế độ bảo hộ Pháp quốc lúc bấy giờ, đây cũng là ngôi trường đào tạo ra nhiều người nổi tiếng sau này. Năm 21 tuổi, trong dặm đường đi về giữa Hà thành và xứ Tuyên ông đã gặp và kết duyên với bà Hà Thị Minh Kim, một người con gái có nhan sắc, nết na và nhân hậu có một không hai của xứ Tuyên Quang. </span></p>
<table border="0" cellspacing="2" cellpadding="0" frame="void" rules="none" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"><img src="http://www.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/hoabt1/14_ba102.jpg" border="0" alt="" /></span></td>
</tr>
<tr>
<td><span style="font-family: Times New Roman; color: #808080; font-size: small;">Bà Hà Thị Minh Kim, người vợ, người trợ bút đắc lực cho nhà văn Lan Khai.</span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Lấy vợ xong, để vợ lại xứ Tuyên với bời bời mây trắng và sự cuộn chảy dữ dội của hai dòng Lô, Gâm nơi thượng nguồn, ông lại về Hà Nội tiếp tục công việc học hành. Nhưng học dưới mái trường của chế độ bảo hộ, một phần bị bức ép, thêm phần nữa với sự khinh miệt dân An Nam của một số người lúc bấy giờ nên ông đã quyết định bỏ học, về xứ Tuyên êm đềm và thơ mộng để dạy học, dịch sách và viết văn.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Với tài năng của mình cùng với duyên bút mực, tuy ở chốn thâm u thượng ngàn nhưng chỉ 5 năm sau ông đã thành danh với các thể loại, tiếng tăm &#8220;động&#8221; cả đến giới văn chương Hà Nội lúc bấy giờ. Trên đà này, để có môi trường và những giao lưu trong sáng tác, ông đã quyết định đưa cả 8 người trong gia đình mình về Hà Nội thuê nhà viết văn kiếm sống. Các tờ báo có tên tuổi lúc bấy giờ như: Loa, Ngọ Báo, Đông Tây, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ thông Bán nguyệt san… liên tục đăng bài của ông. Sau khi lựa chọn, năm 1938 ông quyết định về với Tiểu Thuyết Thứ Bảy.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Một năm sau, năm 1939, Vũ Đình Long, &#8220;trùm xuất bản&#8221; gạo cội của ngành báo và tạp chí ở Hà Nội lúc bấy giờ đang làm chủ Nhà xuất bản Tân Dân có sáng kiến xin giấy phép ấn hành Tạp chí Tao Đàn. Đây là tạp chí đầu tiên chuyên ngành về văn học của làng báo nước ta lúc bấy giờ. Để có tờ tạp chí ghi dấu ấn trong lịch sử làng báo, ông Long đã đi tìm người tài. Và cái tâm, cái tầm của Lan Khai đã được ông chú ý. Lan Khai được ông Vũ Đình Long rủ về và đặt ngay cương vị Tổng thư ký Bộ biên tập mà ngày nay gọi là Tổng biên tập lúc ông mới bước sang tuổi 33.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Được ông Vũ Đình Long ưu ái nhưng với cách quản lý tiền của ông Long nên tuy nổi tiếng nhưng ông Lan Khai ngày ấy vẫn đói lắm. Và để kiếm đủ tiền thuê nhà, nuôi 8 miệng ăn, mỗi tháng ngoài cộng tác với báo và các tạp chí khác thì ngay ở Nhà xuất bản Tân Dân thôi ông Lan Khai cũng phải viết được một cuốn sách dày 100 trang với tư cách làm thuê cho ông Long. Mỗi trang lúc đó ông Long trả ông Lan Khai 8 hào.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Con trai ông kể rằng ngày ấy nhà văn Lan Khai viết &#8220;như thụi&#8221; nhưng gia đình cũng chẳng dư dật được tẹo nào cả. Là nhà văn nổi tiếng nhưng ông vẫn phải hút thuốc lào, uống rượu với lạc rang, thức ăn thường xuyên là rau muống và cà pháo. Trong hồi tưởng về những ngày cơ cực này của nhà văn nổi tiếng Lan Khai, nhà văn Nguyễn Vỹ có đoạn: Bữa ấy nghe tin người nhà trên Tuyên Quang ốm nặng, ông Lan Khai đã phải mò đến các nhà xuất bản vay tiền. Vay đến mức nài nỉ nhưng ai cũng cấn cá. Cuối cùng ông phải rút tập bản thảo ra mà hứa là sẽ sớm hoàn thành họ mới cho ông vay 20 đồng. Ông về nhà vứt nó xuống giường mà nước mắt tràn trề trên má. Cơ cực thật!</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Nhưng kỳ lạ thay, chính trong thời kỳ khốn khó này lại là lúc ông Lan Khai tỏa sáng và viết được nhiều nhất trên văn đàn. 17 năm cầm bút, ông đã để lại cho đời tới 50 cuốn sách thuộc các thể loại như: Tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội, nghiên cứu lý luận và phê bình văn học, dịch sách, làm thơ (thơ ông lấy bút danh là Lâm Tuyền Khách). Riêng tập &#8220;Truyện đường rừng&#8221; của ông đã hút hồn nhiều người, làm mê mẩn bao thiếu nữ Hà Nội lúc bấy giờ. </span></p>
<p><strong><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Chạnh lòng phố núi</span></strong></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Đối diện với cái ồn ào của phiên chợ trung tâm phố núi miền biên ải Hà Giang là khung cảnh êm đềm, cảm giác ẩm lạnh của ngôi nhà số 142, đường Nguyễn Thái Học, nơi thờ tự vong hồn của cố nhà văn &#8220;đường rừng&#8221; nổi tiếng Lan Khai và sự cung phụng vong linh của người con còn lại duy nhất Nguyễn Lan Phương. Ngôi nhà hẹp, hai tầng, xây cất theo kiểu đơn giản này chỉ nhộn nhịp vào mỗi buổi sáng khi có người ăn phở tìm đến. Ông Lan Phương và hậu duệ tiếp theo của nhà văn nổi tiếng Lan Khai đã chọn nghề bán phở để mưu sinh trong nhiều năm.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Phương kể: Chúng tôi ở cùng cha dưới Hà Nội phồn hoa chỉ trong vòng 9 năm ngắn ngủi. Kỷ niệm về bố với ông không phải là một nhà văn nổi tiếng mà là những đức tính mẫu mực. Ông Phương bảo, làm lụng vất vả người ta thường xuyên cáu gắt nhưng với ông Lan Khai lại không hề như vậy. Sau mỗi ngày lang thang phố xá, lao khổ với bút nghiên để kiếm cái ăn nhưng về khu trọ lúc nào ông cũng dành cho vợ và con một không gian đầy ắp tiếng cười. Không bao giờ ông to tiếng, cả cuộc đời ông chưa bao giờ chửi vợ mắng con. Có gì không đồng ý thì ông lên tiếng dạy bảo, chỉ với tư cách là người lớn tuổi, người đi trước trong gia đình mà thôi. Ra phố về lúc nào ông cũng cắp nách một món quà nhỏ cho lũ con và vợ ở nhà cùng tập bản thảo. Rỗi, ông thường dành thời gian chơi với các con và dạy các con học. </span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Sau, đến năm 1943, do lao khổ bút nghiên nặng nhọc nên ông đổ bệnh hen suyễn. Sức khỏe suy giảm, gia đình lâm cảnh khốn khó, túng bấn nên Lan Khai lại đưa cả gia đình ngược Tuyên Quang. Về trên này ông vẫn dành thời gian viết và duy trì cộng tác cũng như các mối quan hệ với bạn văn gạo cội ở Hà Nội dưới sự trợ bút đắc lực của người vợ Hà Thị Minh Kim. Thế rồi một buổi trưa ngày cuối tháng 8 năm 1945, Lan Khai từ phố về, gọi ông Phương pha cho ấm trà. Vừa uống xong hớp nước, chưa kịp ăn cơm thì có một người lạ đến, mời ông đi với một công việc khẩn kíp gì đó. Ông đi rồi không về nữa. Vậy nên vợ và các con ông đã chọn ngày cuối tháng 8 hằng năm tổ chức làm giỗ.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Nguyễn Đình Khải lấy bút danh là Lan Khai vì ông thích loài hoa này. Mỏng manh với núi đồi, sống phù phiếm nhưng để lại làn hương dễ chịu cho đời. Bút danh này cũng đã &#8220;ám&#8221; vào thân phận ông. Ngắn ngủi, ẩn dật, không xô bồ nhưng tinh khiết và đẹp đẽ đến vô ngần.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai kết duyên với bà Hà Thị Minh Kim sinh hạ được 4 con đều giai. Con ông ai cũng được ông đệm cho cái tên Lan cả, với các tên: Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Lan Phương, Nguyễn Lan Hoa, Nguyễn Lan Diệp. Người con Nguyễn Lan Hương thì hy sinh từ thời chống Pháp, không xác định được mộ chí như bố. Lan Hoa, Lan Diệp đều đã mất cả rồi. Giờ chỉ còn ông Lan Phương, người trụ lại với ngổn ngang chuyện đời, chuyện gia đình để hương khói cho nhà văn Lan Khai.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Trong các con, ông Lan Phương được ông Lan Khai quý nhất và ông cũng là người gần gũi với ông Lan Khai nhiều nhất. Thế nhưng cũng như bố, ông Lan Phương cũng lận đận lắm. Ông Lan Phương sinh năm 1928. Năm 1950, trong thế trận tiễu phỉ ông đã lên Hà Giang. Tham gia kháng chiến ở Sở Tuyên truyền Liên khu 10, vào mặt trận khốc liệt của phỉ tại huyện Hoàng Su Phì, rồi sang cán bộ thuế, lại về ngành giao thông. Cuộc đời bị bắn bẩy nhiều nơi, nhiều ngành, chịu khó, chịu khổ. Ông có 5 người con nhưng học hành đều dang dở, không ai tham gia công việc hay có chức trách gì. Ông đang ở với con thứ 4, người con này cũng đang kế tục nghiệp bán phở của bố và cùng ông Lan Phương thờ tự ông nội là nhà văn nổi tiếng Lan Khai.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Qua khu vực tầng 1 ngổn ngang bàn ghế để bán phở cho khách tôi tìm lên tầng 2, phía gian trong để thăm nơi thờ tự của nhà văn nổi tiếng Lan Khai. Chỗ thờ tự ông giản đơn như cuộc sống những tháng ngày mà ông còn sống. Một bức chân dung treo chênh vênh nơi góc tường, đối diện là chiếc tủ sách nhỏ lưu giữ một số đầu sách được in mới về các tác phẩm của ông do các nhà xuất bản gửi tặng.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Lan Khai để lại cho đời 50 đầu sách. Ngoài con người và văn chương thì những bài viết thuộc thể lý luận và phê bình văn học của ông đã đăng trên Tạp chí Tao Đàn như: Tính cách Việt Nam trong văn chương (Tao đàn số 4), Thiên chức của văn sĩ Việt Nam (Tao đàn số 5), Cái nguy mất gốc (Tao đàn số 6), Một lòng tin cần phải có (Tao đàn số 7), Bàn qua về nghệ thuật (Tao đàn số 7), Phác họa hình dung tâm tính Tản Đà (Tao đàn số 9-10), Con người Vũ Trọng Phụng (Tao đàn số đặc biệt)&#8230; thì đến nay đọc vẫn còn &#8220;kinh&#8221; lắm và chưa dễ mấy ai qua được cách nhìn nhận của ông</span><img src="http://antgct.cand.com.vn/Images/reddot.gif" alt="" /></p>
<p>Đơn Thương</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vợ là Trời cho</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 12 Jan 2010 01:18:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[thơ ngâm dấm]]></category>
		<category><![CDATA[Vợ là Trời cho]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=422</guid>
		<description><![CDATA[Vợ là quả ớt chín cây Đỏ tươi ngoài vỏ mà cay trong lòng Vợ là một đóa hoa hồng Vợ là sư tử Hà Đông trong nhà Vợ là nắng gắt mưa sa Vợ là giông tố phong ba bão bùng Nhiều người nhờ vợ nên ông Nhiều anh vì vợ mất không cơ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Vợ là quả ớt chín cây<br />
Đỏ tươi ngoài vỏ mà cay trong lòng</strong><br />
Vợ là một đóa hoa hồng<br />
Vợ là sư tử Hà Đông trong nhà<br />
Vợ là nắng gắt mưa sa<br />
Vợ là giông tố phong ba bão bùng<br />
Nhiều người nhờ vợ nên ông<br />
Nhiều anh vì vợ mất không cơ đồ<br />
Vợ là cả những nguồn thơ<br />
Vợ là cả những giác mơ vơi đầy<br />
Vợ là một chút men say<br />
Là nước hoa ngoại làm ngây ngất lòng<br />
Vợ là một áng mây hồng<br />
Vợ là hoa hậu để chồng đắm say<br />
Vợ là khối óc bàn tay<br />
Vợ là bác sỹ tháng ngày chăm ta<br />
Vợ là nụ, vợ là hoa<br />
Vợ là chồi biếc, vợ là mùa xuân<br />
Vợ là tín dụng nhân dân<br />
Vợ là kế toán giải ngân trong nhà<br />
Vợ là biển rộng bao la<br />
Vợ là hương lúa đậm đã tình quê<br />
Vợ là gió mát trưa hè<br />
Vợ là hơi ấm thổi về đêm đông<br />
Vợ là chỗ dựa của chồng<br />
Nhiều anh dám bảo vợ không là gì?<br />
Khoan khoan hãy nghĩ lại đi<br />
Vợ quan trọng lắm, không gì hơn đâu<br />
Việc nhà vợ có công đầu<br />
Nấu cơm, nấu nước, rửa rau, pha trà<br />
Vợ là máy giặt trong nhà<br />
Vợ là cát-sét, vợ là ti-vi<br />
Nhiều đêm vợ hát chồng nghe<br />
Lời ru xưa lại vọng về trong ta<br />
Vợ là làn điệu dân ca<br />
Vợ là bà chủ, vợ là nhân viên<br />
Vợ là cái máy đếm tiền<br />
Vợ là nội lực làm nên cơ đồ<br />
Vợ là thủ quỹ, thủ kho<br />
Vợ là hạnh phúc ấm no trong nhà<br />
Vợ là vũ trụ bao la<br />
Nhiều điều bí ẩn mà ta chưa tường<br />
Khi nào giận, lúc nào thương<br />
Sớm mưa, chiều nắng ai lường được đâu<br />
Vợ là một khúc sông sâu<br />
Vợ như là cả một bầu trời xanh<br />
Vợ là khúc nhạc tâm tình<br />
Vợ là cây trúc bên đình làm duyên<br />
Vợ là cô Tấm thảo hiền<br />
Vợ là cô Cám hám tiền ham chơi<br />
Đàn ông nhất vợ, nhì trời<br />
Ai ơi ghi nhớ kẻo rồi khổ thân<br />
Nghìn năm con tạo xoay vần<br />
Đàn ông sợ vợ muôn phần khôn ngoan<br />
Đàn ông nịnh vợ là sang<br />
Đàn ông chê vợ tan hoang cửa nhà<br />
Mấy lời nhắn nhủ gần xa<br />
Làm chồng phải biết vợ là trời cho.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>tanhieptho.com</strong> &#8211; (theo khakha)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

