<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tân Hiệp Thơ</title>
	<atom:link href="http://www.tanhieptho.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.tanhieptho.com</link>
	<description>Những mùa thơ Tân Hiệp</description>
	<lastBuildDate>Sat, 27 Feb 2010 05:58:40 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.9.2</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay  Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 27 Feb 2010 05:58:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=428</guid>
		<description><![CDATA[1. Thử Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay

Người ta đã bàn luận nhiều về đề tài:”Thế nào là một bài Thơ hay?”. Người thích bài này, kẻ ưa bài kia, thật khó mà định nghĩa thế nào là một bài Thơ hay, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đồng ý Thơ là tuyệt đỉnh của Văn chương, Thơ ít chữ nhưng nói nhiều hơn văn xuôi và vì vậy không phải ai cũng làm được một bài thơ hay, dù có nhiều kẻ suốt đời nặng lòng với Thơ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> Thử  		  		Tìm Hiểu Thế  		  		Nào Là Một  		Bài Thơ  		Hay</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong><em> Xuân Vũ</em></strong><em> <strong>Trần Ðình Ngọc</strong></em></p>
<p>1. Thử  		Tìm Hiểu Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay</p>
<p><strong> N</strong>gười  		ta đã bàn luận nhiều về đề tài:”Thế nào là một bài Thơ hay?”. Người  		thích bài này, kẻ ưa bài kia, thật khó mà định nghĩa thế nào là một bài  		Thơ hay, nhưng hầu như tất cả mọi người đều đồng ý Thơ là tuyệt đỉnh của  		Văn chương, Thơ ít chữ nhưng nói nhiều hơn văn xuôi và vì vậy không phải  		ai cũng làm được một bài thơ hay, dù có nhiều kẻ suốt đời nặng lòng với  		Thơ.</p>
<p>Người viết bài này hoan nghênh tất cả các bài Thơ do nhiều tác giả khổ  		công sáng tác, chỉ không hoan nghênh những bài Thơ dùng từ rất kêu nhưng  		xét giá trị từng câu, toàn bài thấy vô nghĩa.</p>
<p>Vâng, nó vô nghĩa! Có nghĩa là người đọc không hiểu tác giả bài Thơ muốn  		nói lên cái gì, ám chỉ cái gì, hoặc gởi gấm cái gì trong những hàng chữ  		kia. Có thể những ông, bà tác giả đó nguỵ biện rằng người đọc không đủ  		trình độ hiểu Thơ của họ. Nói như thế với một em bé trình độ tiểu học  		thì có thể chứ với những người đã có trình độ Ðại học VN hoặc đã có làm  		Thơ thì đúng là nguỵ biện và quá cao ngạo, kiêu căng.</p>
<p>Ðể tôi kể bạn nghe một giai thoại về Thơ. Có một ông nhà thơ ở miền Nam  		trước 1975, sau đó sang hải ngoại, làm được một số bài thơ và được bè  		bạn cũng có, tự ông ta cũng có, dùng ống đu đủ thổi lên như hàng Thi  		vương, Thi bá, độc nhất vô nhị. Có một người quen ông ta, một bữa lấy 4  		câu thơ của ông ta ở mấy chỗ khác nhau, cho một cái tựa và đặt liền vào  		nhau như một bài thơ. Người này , nhân lúc trà dư tửu hậu đem ra , nói  		là thơ mới làm, nhờ ông ta nhuận sắc dùm. Ông ta đọc xong bài thơ, hét  		toáng lên rằng:”Thơ gì vô nghĩa thế này ? Tao không biết mày định nói  		cái gì ? Vứt thùng rác cho rồi !” Người bạn lúc đó mới ôn tồn nói:”Thưa  		thi hào, chính là thơ của đại gia đấy !”Nhà thơ vẫn không tin và người  		bạn phải lấy cuốn Thơ của ông ta xuất bản ra chỉ vào những câu ông đã  		trích. “Ðại thi hào” ngồi ngẩn tò te ra, mắc cở . Vậy mà lâu nay có ai  		nói cho ông ta biết đâu hoặc có nói, ông ta cũng không chịu nhìn nhận  		một sự thực.</p>
<p>Về định nghĩa thế nào là một bài thơ hay. Nếu trả lời cho đầy đủ kèm  		theo những dẫn chứng thì có thể phải cả cuốn sách mới đủ. Nhưng tôi chỉ  		sơ lược mấy điểm chính để các bạn chưa từng làm Thơ hoặc có ý định sẽ  		vào làng Thơ, nắm được thế nào là một bài thơ hoặc câu thơ hay.</p>
<p><strong> LỜI HAY, Ý ÐẸP, TRUYỀN CẢM</strong></p>
<p>Lời thơ trong sáng, tự nhiên, không cố ý gọt dũa, hoặc có gọt dũa, nhưng  		người đọc không thấy, ta gọi tắt là lời hay.</p>
<p>Ý thơ hàm súc, dồi dào, gọi tắt là ý đẹp.</p>
<p>Ðọc lên thấy xúc động, nao nao, xao xuyến trong tâm hồn, tức là thơ có  		sức truyền cảm.</p>
<p>Ðó là thơ tả tình. Thí dụ: (trích truyện Kiều)</p>
<p><em> Một mình nàng, ngọn đèn khuya</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoặc:</em></p>
<p><em> Cũng liều nhắm mắt đưa chân</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thử xem con tạo xoay vần đến dâu!</em></p>
<p>Ðến như thơ tả cảnh thì đọc câu thơ lên thấy như vẽ trước mắt ta phong  		cảnh tác giả muốn phô diễn. Thí dụ:</p>
<p><em> Chim hôm thoi thót về rừng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ðoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoặc:</em></p>
<p><em> Cỏ non xanh tận chân trời</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cành lê trắng điểm một vài bông hoa</em></p>
<p>Chỉ có một ngọn đèn khuya , chiếc áo nàng đang mặc đẫm nước mắt và mái  		tóc bù rối của nàng mà người đọc tưởng tượng ra được một thiếu phụ đang  		trải qua những đau thương , cay đắng của cuộc đời. Chỉ có 14 chữ mà nói  		lên được cái tâm sự dằng dặc cả mấy trang nếu phải viết bằng văn xuôi.</p>
<p>Hai câu sau tả cảnh cũng thế. Một buổi chiều hiu hắt, u buồn, chim lặng  		lẽ về tổ, đoá trà mi cô đơn dưới ánh trăng thượng tuần. Vẫn có hoa và  		trăng nhưng hoa và trăng nhuốm vẻ tiêu điều như lòng người. Cái buồn của  		nhân vật như lây sang ta, đó chính là truyền cảm.</p>
<p>Hai câu chót là bức tranh của Claude Monet hoặc của Vincent van Gogh đưa  		tầm mắt ta ra xa đến tận chân trời, toàn mầu xanh tươi, chỉ điểm vài  		cánh lê trắng muốt.</p>
<p>Thật tài tình. Và thật thơ</p>
<p>Không chỉ trong những đọan tả cảnh, tả tình mà còn là những đoạn Mượn  		Cảnh Tả Tình, có nghĩa người đọc chỉ cần chú ý vào không gian, thời  		gian, sự vật xung quanh nhân vật mà thấy rõ được tâm sự nhân vật, cái  		rất khó tả cho đúng. Chúng ta hãy đọc lại đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích”  		sau đây sẽ nhận ra điều đó:</p>
<p><em> Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bốn bề bát ngát xa trông</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tưởng người dưới nguyệt chén đồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tin sương luống những rày mong mai chờ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bên trời góc bể bơ vơ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nhớ người tựa cửa hôm mai</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Sân Lai cách mấy nắng mưa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Có khi gốc tử đã vừa người ôm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông cửa bể chiều hôm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông ngọn nước mới sa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hoa trôi man mác biết là về đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Chân mây mặt nước một mầu xanh xanh</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Buồn trông gió cuốn mặt duềnh</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.</em></p>
<p>Bình giải sơ lược: Sáu câu đầu tác giả tả nàng Kiều trong hoàn cảnh tồi  		tệ nhất là ở “thanh lâu” (thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần), Kiều bẽ  		bàng cho thân phận ngay cả khi ngắm áng mây buổi sớm, nhìn ngọn đèn leo  		lét ban tối. Cảnh ấy, tình này làm cho lòng nàng đòi đoạn, đứt ruột (như  		chia tấm lòng).</p>
<p>Bốn câu kế, Kiều nhớ đến Kim Trọng, người yêu đầu đời và trọn đời. Nhớ  		đến đêm trăng sáng năm xưa cùng chàng thề thốt, nay biệt vô âm tín mà  		tấm thân nhơ nhuốc này biết bao giờ gột rửa để trở nên trong sạch, xứng  		đáng với chàng?</p>
<p>Bốn câu kế:”Nhớ người tựa cửa&#8230;” Kiều nhớ cha mẹ. Không biết giờ này  		lấy ai thay mình phụng dưỡng song thân? Như ông Lão Lai ngày xưa, thấy  		cha mẹ buồn liền ra sân múa hát, làm trò hề cho cha mẹ vui cười lên mà  		khuây khoả tuổi già. Quay đi quay lại, ấy vậy mà cha mẹ trăm tuổi lúc  		nào không hay (có khi gốc tử đã vừa người ôm).</p>
<p>Tám câu sau cùng tả cảnh nhưng là cảnh có tâm hồn người hàm chứa trong  		đó: cửa bể, con thuyền, ngọn nước, hoa trôi, bèo dạt&#8230; trong khi tạo  		vật vẫn vô tình với nỗi buồn của con người:” Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh  		ghế ngồi”</p>
<p>Hoặc như trong “Cung Oán Ngâm khúc”:</p>
<p><em>Cầu Thệ thủy ngồi trơ cổ độ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quán Thu phong đứng rũ tà huy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Phong trần đến cả sơn khê</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tang thương đến cả hoa kia, cỏ này!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tuồng huyễn hoá đã bày ra đấy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Kiếp phù sinh trông thấy mà đau</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trăm năm còn có gì đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!</em></p>
<p>Nơi bến đò xưa, cây cầu bắc trên dòng nước chảy không ngừng vẫn “trơ mặt  		với phong sương”, cũng như cạnh đó, quán trống, trong nắng chiều yếu ớt,  		gió thu lạnh lẽo hun hút thổi làm cảnh trí càng thêm tiêu sơ. Nàng cung  		nữ, vì nhớ đến thân phận hẩm hiu của mình, nhìn hoa cỏ, núi sông đều  		thấy một mầu tang thương. Tất cả do “Tạo hóa đành hanh quá ngán” bày ra  		và rốt cuộc kiếp người trôi nổi chỉ còn lại một nấm cỏ khâu xanh rì!</p>
<p><strong>ÂM ĐIỆU, TIẾT TẤU</strong></p>
<p>Nhiều nhà ngôn ngữ học quốc tế sau khi nghiên cứu về tiếng Việt đã cho  		rằng tiếng Việt khi nói có âm điệu như hát (singing language).</p>
<p>Sở dĩ có được kết luận đó vì tiếng Việt có các thanh bằng, trắc khác  		nhau nên khi nói, các từ ngữ lên xuống theo các thanh cho âm điệu và  		tiết tấu.</p>
<p>Thi sĩ tiếng Việt khi làm thơ lại càng cần phải để ý đến các thanh bằng  		trắc này để cho bài thơ có âm điệu tiết tấu hay, dễ đọc và quyến rũ.  		Chính bởi thế thơ có niêm luật, niêm là dính, luật là những chữ phải  		bằng hay phải trắc hay phải hợp vận.Thí dụ hai câu lục bát:</p>
<p><em>Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần)</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bằng bằng trắc trắc bằng bằng (vần) trắc bằng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thành Tây có cảnh Bích câu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cỏ hoa họp lại một bầu xinh sao</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đua chen thu cúc, xuân đào</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông!</em></p>
<p>Những chữ 1,3,5 (nhất, tam, ngũ) bất luận, luật là bằng nhưng có thể  		trắc, và ngược lại.(Vì bài này không chủ trương dạy cách làm thơ, quí  		bạn đọc muốn nghiên cứu tường tận hơn về niêm, luật bằng trắc, vận có  		thể đọc trong sách Việt Nam Văn học sử yếu của GS Dương quảng Hàm hoặc  		các sách Văn học sử khác.).</p>
<p>Người làm thơ cần đặc biệt chú ý đến vần vì nếu thơ không có vần (hợp  		vận), sẽ không được gọi là thơ, sẽ chỉ như văn xuôi được cắt ra những  		đoạn 6 hoặc 7, 8 chữ v.v&#8230;. Có người đã ví một cách ngộ nghĩnh là thơ  		không vần như mặc quần không áo, nó thiếu phần quan trọng để thành những  		câu thơ như tác giả của nó mong muốn. Hơn nữa, vần dùng tài tình cho  		người đọc thơ thấy tài của tác giả mà không phải ai cũng có thể làm  		được. Những bài thơ nổi tiếng thường là những bài thơ vần được sử dụng  		chặt chẽ, khít khao và tài tình.</p>
<p>Thí dụ: Bản dịch “Lầu Hòang Hạc” của Tản Đà tiên sinh từ nguyên tác  		Hòang Hạc lâu của Thôi Hiệu:</p>
<p><em> Hạc vàng ai cỡi đi đâu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mà nay Hòang Hạc riêng lầu còn trơ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hạc vàng đi mất từ xưa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Hán Dương sông tạnh, cây bày</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Quê hương khuất bóng hòang hôn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!</em></p>
<p>Thơ tự do không bắt buộc phải có vần nhưng cũng cần vần khi có thể để  		cho câu thơ nổi nang hơn, có chất thơ hơn. Còn thơ mới, vần chữ cuối câu  		hay cước vận, bắt buộc phải có vận, hợp vận</p>
<p>Thí dụ:</p>
<p><em> Nào còn đâu những đêm vàng bên bờ suối </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những chiều mưa chuyển động bốn phương ngàn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ta lặng ngắm cảnh giang sơn ta đổi mới.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những bình minh cây xanh nắng gội</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng&#8230;</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> (Hổ nhớ rừng &#8211; Thế Lữ)</em></p>
<p>Hoặc một đọan đầu trong bài “Nắng Quê Hương” của tác giả bài này:</p>
<p><em> Em sang đây mang giùm anh chút nắng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nắng Sàigòn &#8211; Hànội &#8211; Nắng Quê Hương</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Nắng ngày xưa em nhặt ở sân trường</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Đem hong gió Thu vàng hay ép sách. </em></p>
<p><strong> TÓM TẮT </strong></p>
<p>Một bài Thơ hay phải hội đủ ba yếu tố: Lời hay, Ý đẹp, và Truyền cảm. Có  		cả ba yếu tố thiết yếu này, người ta gọi tắt là một bài thơ hay, một bài  		thơ có hồn. Khi thi sĩ cảm hứng, tứ thơ tuôn tràn, hồn thơ lai láng.  		Chính kẻ viết bài này, có nhiều lần bút không kịp ghi tứ thơ trên giấy,  		phải dùng những chữ viết tắt mà chính tác giả mới đọc được, ghi vội ra  		vì nếu để giây phút đó qua đi, sẽ không thể hoặc khó có thể làm được bài  		đã định. Sau giây phút “xuất thần” đó, bây giờ mới thong thả coi lại bài  		thơ từ đầu tới cuối và chỉnh những từ không vừa ý. Thường chỉ chỉnh sơ  		sài, dăm ba từ bị thay thế cho thích hợp, nhưng cái cốt lõi đầu tiên,  		cái khung, cái hồn của bài thơ thì không bao giờ thay đổi, bởi nó đã hay  		hoặc vừa ý (với chính nhà thơ.)</p>
<p>Thi sĩ phải có hứng sáng tác, thơ mới hay. Hứng là cái sáo diều hoặc sợi  		dây đàn treo trong không gian, một làn gió nhẹ thổi qua đủ làm nó phát  		ra thanh âm. Tâm hồn thi sĩ cũng ví như cái sáo hoặc sợi dây đàn đó, một  		ý tưởng mới, một cảm nghĩ mới, một sự việc mới xảy ra trước mắt khiến  		nhà thơ muốn dùng bút ghi lại sự việc hoặc những cảm nghỉ của mình trong  		khi người không có tâm hồn thi sĩ, không để ý tới sự việc xảy ra, cũng  		không có những cảm nghĩ mà nhà thơ có. Ðó chính là “Cái sáo hoặc sợi dây  		đàn” của thi sĩ. Nó vô cùng bén nhạy nên thi sĩ mới có hứng thơ. Với nhà  		văn, hứng viết văn cũng tương tự thế. Do đó, chúng ta phân biệt hai  		loại, nếu ghi thường: văn xuôi; nếu ghi có vần điệu tiết tấu: Thơ. Cả  		hai đều là văn chương, tuy co những nét đặc thù khác hẳn nhau.</p>
<p>Ðể làm rõ nét cái hứng của thi nhân, chúng tôi xin đưa ra trường hợp Thi  		sĩ Ôn như hầu Nguyễn gia Thiều.</p>
<p>Tất cả chúng ta nhìn các cung nữ thời xưa, lúc son trẻ được nhà vua vời  		vào cung làm cung phi đều là chuyện bình thường bởi vua có quyền sinh  		sát toàn dân. Vua muốn là Trời muốn vì vua là Thiên tử, con Trời. Riêng  		tác giả “Cung oán ngâm khúc” lại có cái nhìn khác. Thi nhân nghĩ chỉ vì  		phải phục vụ cho những sắc dục tham lam, bất chính của nhà vua mà các  		cung nữ này bị giam trong cung cấm, uổng phí cả một đời thanh xuân khi  		nhà vua chỉ dùng các nàng cho một đêm vui rồi không bao giờ đoái hoài  		tới nữa làm nhiều cung phi chết già trong cung cấm. Nhà vua, sau khi  		thoả mãn, ân ái một đêm, lại đi tìm những bông hoa hương sắc khác để tủi  		hổ, bẽ bàng, đau khổ cho hàng trăm, hàng ngàn cung phi mà họ không biết  		kêu cứu vào đâu được.(Ngán thay cái én ba nghìn). Từ đó thi nhân viết  		cuốn “Cung oán ngâm khúc” để thay cho các cung phi nói lên nỗi lòng đòi  		đoạn nơi cung cấm, may ra tiếng nói có thấu đến cửu trùng, các nàng được  		giải thoát khỏi cuộc sống tối tăm, chết dần, chết mòn, được trở về nơi  		thôn dã sống với gia đình và biết đâu lại có được một tấm chồng để nương  		tựa suốt cuộc đời còn lại.</p>
<p>Vì đặt mình vào hoàn cảnh các cung phi bị thất sủng, thi nhân đã cực tả  		được những đau xót của các cung phi:</p>
<p><em> Trải vách quế gió vàng hiu hắt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Oán chi những khách tiêu phòng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Mà xui phận bạc nằm trong má đào&#8230; </em></p>
<p>Trở lại ý hướng mượn cảnh tả tình của thi nhân, chúng ta hãy đọc lại hai  		bài thơ (Đường luật) sau đây, của Bà huyện Thanh Quan và Cụ Nguyễn  		Khuyến:</p>
<p><strong><em> CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Gác mái ngư ông về viễn phố </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Gõ sừng mục tử lại cô thôn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Dặm liễu sương sa khách bước dồn </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ </em></p>
<p><em> Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ! </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> THU ÐIẾU</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ao thu lạnh lẽo nước trong veo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Sóng biếc theo làn hơi gợn tí</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><strong><em> Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Ngõ trúc quanh co khách vắng teo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tựa gối ôm cần lâu chẳng được</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Cá đâu đớp động dưới chân bèo.</em></p>
<p>Hai bài thơ này cùng làm theo thể Ðường luật, thơ bảy chữ tám câu, rất  		phổ thông từ đầu thế kỷ thứ XIX. Nữ sĩ Hồ xuân Hương cũng là một trong  		những nhà thơ sử dụng thể thơ này nhiều nhất.</p>
<p>Bài “Chiều hôm nhớ nhà” có dăm tiếng Hán -Việt như: hoàng hôn, ngư ông,  		viễn phố, mục tử, chương đài, lữ thứ nhưng không phải là những chữ quá  		khó. Sáu câu đầu tả cảnh để làm nền cho hai câu cuối tả tình. Bạn để ý  		cặp câu:”Gác mái&#8230; và Gõ sừng&#8230;”; cặp “Ngàn mai&#8230; và Dặm liễu&#8230;”,  		(động tự đối với động tự, danh tự đối với danh tự) làm theo thể biền  		ngẫu nghĩa là mỗi chữ đối nhau, nét đặc thù của thơ Ðường luật. Ðọc xong  		bài thơ ta thấy tâm hồn ta cũng chìm lắng vào nỗi buồn của “kẻ chốn  		chương đài, người lữ thứ” một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm thía của hai  		tâm hồn xa nhau.</p>
<p>Như bài Thu Ðiếu, hay Mùa Thu câu cá, cặp câu “thực” và “luận”: “Sóng  		biếc&#8230;” đối với “Lá vàng&#8230;” và “Từng mây&#8230;” đối với “Ngõ  		trúc&#8230;”.Toàn bài không có một chữ Hán, một điển cố, vẽ ra bức tranh thu  		êm đềm, tịch mịch trong đó chỉ có một động vật duy nhất là nhà thơ đang  		thả hồn vào thiên nhiên với lá vàng rơi rụng, với từng mây xanh ngắt,  		với ngõ trúc quanh co. Tất cả đã toát ra mùi vị Thiền và bức tranh:” Vạn  		vật đồng nhất thể” vô cùng sâu sắc.</p>
<p>Hai bài thơ trên, cùng một số bài thơ khác của hai tác giả này và nhiều  		tác giả khác như Nguyễn công Trứ, Cao bá Quát, Hồ xuân Hương v.v…đã được  		đa số chúng ta học thuộc lòng từ hồi còn ngồi lớp 8, lớp 9 trong phần Cổ  		văn.</p>
<p>Tuy nhiên, vì thơ Đường luật phải tuân theo niêm, luật, vần và biền ngẫu  		như thế nên từ thế hệ 1932, các nhà thơ đã than là thể thơ này quá khó  		so với những thể thơ lục bát, song thất lục bát, nhất là thơ mới và thơ  		tự do ra đời trong khỏang thời gian đó. Các cụ nói:” Khó cho thiên hạ  		đến bao giờ&#8230;” để nói về thể thơ Đường luật này. Hơn nữa, khi phải diễn  		tả một tình cảm phức tạp, dài dòng thơ Đường không đáp ứng nổi như song  		thất lục bát và lục bát.Và cũng kể từ đó, các thể thơ tự do, thơ mới 8,  		9 chữ hay thơ 7 chữ, mỗi đọan bốn câu, gồm nhiều đọan, vần cuối ở các  		câu 1, 2, và 4 rất được thịnh hành. Thể thơ Đường chỉ còn thấy thưa thớt  		nơi các cụ đồ nặng lòng với thơ cổ khi xưa và những tác giả không thích  		thơ mới. Cũng nên lưu ý, thơ mới có âm điệu, tiết tấu và cách diễn tả  		hùng mạnh mà thơ Đường không thể. Thơ tự do cho người làm thơ diễn đạt ý  		tưởng không giới hạn nhưng cũng không phải dễ để sáng tác một bài thơ tự  		do hay.</p>
<p>Để có một cái nhìn xuyên suốt về Thơ, nguyên tắc chung cho hầu hết các  		môn khoa học là: hợp lý = dễ hiểu = dễ nhớ, dù là toán học hay nhân văn.  		Từ những bài thơ cổ này, chúng ta cũng suy ra, để hiểu thơ cũng như để  		sáng tác thơ, chúng ta cần một ít chữ Hán-Việt, hiểu nghĩa và cách sử  		dụng chúng mới dễ quay trở khi làm thơ.</p>
<p><strong> A-THƠ HAY RẤT DỄ THUỘC DỄ NHỚ</strong></p>
<p>Từ đó ta thấy, thơ hay là thơ có thể học thuộc lòng một cách dễ dàng.  		Một học sinh có trí nhớ trung bình chỉ cần ngâm nga hai bài thơ của cụ  		Nguyễn Khuyến và bà huyện Thanh Quan nói ở trên vài lần là thuộc lòng.  		Thơ đọc trúc trắc, khó hiểu, vô nghĩa, không dễ dàng học thuộc, chắc  		chắn không phải thơ hay. Cũng nên lưu ý, thơ đọc trúc trắc chính vì tác  		giả của nó không am tường luật bằng trắc hoặc không sử dụng đúng qui  		luật bằng, trắc và vần.</p>
<p>Ðể kiểm chứng điều này, quí bạn đọc thử nhớ tên một nhà thơ, ông A, bà B  		v.v…cố nhớ lấy một bài thơ hay vài câu thơ của họ mà quí vị đã đọc, xem  		có thuộc được bài nào không, câu nào không. Không có, ấy là thơ ra sao  		quí vị đã biết. Nhưng có nhiều tác giả thời nay lại nghĩ cứ làm thơ khó  		hiểu, tối nghĩa hay vô nghĩa, cao kỳ, dùng những từ cho kêu là được quần  		chúng ái mộ. Sự thực không phải thế. Thơ kêu nhưng rỗng thì không khác  		một cái thùng phuy, càng rỗng càng kêu to.</p>
<p>Trước đây, rất nhiều người, ngay cả ở nông thôn Việt nam, đã học thuộc  		lòng Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, Nhị Ðộ Mai, Cung oán  		ngâm khúc, Tì bà hành, Trinh thử, Trê cóc, Ngư tiều vấn đáp, Lục súc  		tranh công, Bích câu kỳ ngô v.v…lúc rảnh rang, đọc vanh vách cho nhau  		nghe dù có nhiều người không có sách hoặc không biết chữ, chỉ học lóm  		bạn bè. Sở dĩ họ thích, họ say mê vì lời Thơ gần gũi với họ, tả cái tâm  		lý chung của họ hay người xung quanh họ như Jacques Prévert, một Thi sĩ  		Pháp có viết:” Ðọc Thơ lại thấy có mình ở trong” cũng là ý nghĩa đó.  		Người nông dân học thuộc lòng dễ dàng như vậy vì những câu Thơ này giản  		dị, dễ hiểu, hợp lý, vần vò. Chính bởi thế, nguời ta còn gọi Thơ là văn  		vần để phân biệt với văn xuôi.</p>
<p>Trước 4-1975, ở miền Nam Việt Nam, có một số tác giả làm Thơ đăng trên  		các báo, tạp chí, nguyệt san, cả những nguyệt san được coi là thời  		thượng, nổi tiếng lúc đó mà nguời viết không tiện hài tên, bạn bè những  		tác giả này cũng ca tụng họ hết mình như hàng thi bá (một nhược điểm của  		giới làm Văn học Nghệ thuật cận và hiện đại, hay dở gì khen bừa); nhưng  		bây giờ hỏi còn ai nhớ được một bài Thơ của họ hoặc ít nhất là tinh thần  		những bài thơ đó không ? Chúng nói lên cái gì? Chúng ca tụng hay đả phá  		cái gì? Ðủ biết Thơ phải gần gũi với dân gian mới có thể tồn tại với  		thời gian. Thơ xa rời thực tế là chỉ để trang điểm nhất thời, dù Thơ bác  		học (Hán văn), cao xa đi nữa.</p>
<p><strong> B-PHẢI GÂY ÐƯỢC SỰ XÚC ÐỘNG</strong></p>
<p>Thơ là văn xuôi đã gạn lọc, cô đọng lấy phần tinh tuý sâu sắc của văn  		chương nên Thơ phải súc tích và truyền cảm nghĩa là gây được sự xúc  		động, xao xuyến từ tác giả sang người đọc.</p>
<p>Người đọc phải có được sự rung động của tác giả , dù cường độ kém hơn,  		mới được gọi là thơ hay. Thơ đọc lên trơ trơ trích trích, không chuyển  		động được một “thớ thịt đường gân” nào của người đọc, đó là Thơ kém giá  		trị. Ngưòi ta đọc Chinh phụ ngâm mà tưởng rằng mình là người chinh phụ,  		có chồng sắp ra ngoài quan ải đánh giặc, giữ nước. Người ta đọc Cung Oán  		mà cứ ngỡ mình là người cung phi bị thất sủng, nhà vua không đoái hoài  		tới.</p>
<p>Ðó là sự thành công của tác giả.</p>
<p><strong> C-THƠ PHẢI NÓI LÊN MỌI KHÍA CẠNH CỦA ÐỜI SỐNG</strong></p>
<p>Ðành rằng Thơ tình ái là loại Thơ nhiều người làm, nhiều người đọc nhất  		và cũng dễ làm hơn nhiều loại khác, nhưng một tác giả cả đời chỉ viết  		được những bài thơ tình ái hoặc ca tụng đàn bà như nhà thơ Ðinh Hùng là  		một (Ðường vào Tình sử, chính ông thú nhận), thì chưa thể gọi được là đã  		quán xuyến về Thơ.</p>
<p>Hầu hết những bài Thơ hay của những tác giả như Nguyễn bỉnh Khiêm,  		Nguyễn công Trứ, Trần tế Xương, Cao bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn  		Khuyến, Nguyễn Du, Tản Ðà, Nguyễn Trãi v.v…đều là Thơ về Thiền, Thơ yếm  		thế, luận bàn thế sự, nhân tình thế thái, Thơ đạo lý, triết lý cuộc đời,  		thơ nhàn v.v… mà rất ít hoặc không có Thơ tình.</p>
<p>Nguyễn Du tả Kiều trong thanh lâu, Kiều tiếp khách, Kiều tắm… vì Kim Vân  		Kiều là một cuốn tiểu thuyết Nguyễn Du phỏng theo cốt truyện của một tác  		giả Trung hoa (Thanh Tâm tài nhân) trước tác ra và đặt tên là Ðoạn  		trường Tân Thanh. Là tiểu thuyết, vả lại trung thành với nguyên tác,  		Ðoạn trường Tân Thanh cần phải có đủ tình tiết, hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố,  		dục, người đọc mới thấy hết được những khiá cạnh của nhân vật chính  		trong truyện. Chứ không phải ông có ý tả chân để khiêu dâm như một số  		người đã gán cho ông (Huỳnh thúc Kháng, Ngô đức Kế: ai, dâm, sầu oán,  		đạo, dục, tăng, bi) hay như Nguyễn công Trứ: “Bán mình trong mấy mươi  		năm, Ðố đem chữ hiếu mà lầm được ai.”)</p>
<p>Quan niệm coi Kim Vân Kiều là một cuốn tiểu thuyết dâm ô đã quá lỗi  		thời. Trái lại người ta có thể tìm trong đó những vần thơ bất hủ được  		lưu truyền mãi mãi. Chúng ta chỉ nên coi Kiều là một tác phẩm văn chương  		mà thôi. Càng không nên đưa Kiều ra làm mẫu mực về đạo đức, luân lý (như  		có tác giả đã làm) mặc dù nhân vật Kiều rất nhân bản, chứa đựng đầy đủ  		tâm lý của con người bình thường.</p>
<p>Theo thiển ý, chỉ có một điều tiếc: Nguyễn Du không sáng tác mà nhờ vào  		một cốt truyện Tàu, dĩ nhiên thuộc thời đại vua Tàu, nhân vật Tàu, phong  		tục, văn hóa Tàu&#8230;, tuy cũng tương cận với chúng ta nhưng không thể  		bằng tất cả đều là Việt Nam.</p>
<p><strong>D-CUỘC ÐỜI: ÐỀ TÀI VÔ TẬN CHO THI NHÂN</strong></p>
<p>Cõi nhân sinh này còn rất nhiều điều cần đến nhà thơ, nhà văn ghé mắt  		đến. Nào là tôn giáo, gia đình, xã hội, đất nước, quê hương, dân tộc, tự  		do, dân chủ, bình đẳng, nào là công bằng, bác ái, vị tha, hi sinh cứu  		giúp kẻ khốn cùng… Ngay như thiên nhiên, cây cỏ, thú vật, chim muông,  		gia cầm, gia súc cũng là những đề tài vô tận.</p>
<p>Học giả Phạm Quỳnh trong báo Nam Phong xuất bản năm 1921 có viết:”&#8230;Làm  		một bộ tiểu thuyết, cốt là đặt cho hay, viết cho khéo, cho người đọc có  		hứng thú, &#8230;có lẽ ở những nước văn minh có thể nghĩ như thế được; nhưng  		ở những dân còn bán khai như dân ta thời văn chương rất là quan hệ cho  		đời lắm, nhà làm văn có cái trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho  		quốc dân, nếu làm sai trách nhiệm ấy thời dẫu văn chương hay đến đâu  		cũng có tội với quốc gia, với danh giáo vậy. Các nhà tiểu thuyết ta há  		không nên cẩn thận lắm ru?” (Hết trích)</p>
<p>Tác giả Tô Hoài thời tiền chiến chỉ tả mấy con dế mèn phiêu lưu mà cũng  		được học sinh đua nhau đọc, nổi tiếng một thời. Vậy không phải chỉ Thơ  		tình ái mới ăn khách. Yêu đương, nhớ nhung, dang dở, chia phôi …chỉ bấy  		nhiêu, không phải lúc nào độc giả cũng “tiêu hoá “được. Viết lắm sẽ  		nhàm. Cứ một loại Thơ đó chỉ chứng tỏ tác giả không thể viết và nghĩ đa  		dạng mà thôi. Có nghĩa là tác giả không đủ tài. Mà cuộc đời hiện đại lại  		quá đa dạng, đa phương. Sự biến hoá của cuộc đời làm ta chóng mặt. Một  		vị Tổng Thống Mỹ, ông Franklin Roosevelt bảo với mọi người, trước khi  		ông đọc diễn văn trước quốc dân:” Vỗ tay nhiều không có nghĩa là diễn  		văn hay” Ta cũng có thể lấy câu đó áp dụng cho một số tác giả trước đây  		ở miền Nam và ngày nay ở hải ngoại, thơ, văn rất nghèo nàn nhưng bè bạn,  		theo cái mốt, dùng ống đu đủ thổi phồng và vỗ tay quá lố. Và đó cũng là  		lý do làm mất niềm tin của đa số độc giả có trình độ.</p>
<p><strong>Đ-LÀM THƠ PHẢI TUÂN THEO NIÊM LUẬT, BẰNG TRẮC</strong></p>
<p>Ngoại trừ Thơ tự do, không cần vần, không niêm luật bằng trắc, không  		giới hạn số câu, số chữ trong câu (Xin đọc bài Thương tiếc Columbia của  		người viết bài này), còn các thể thơ khác như lục bát, song thất lục  		bát, ngũ ngôn, thất ngôn (Ðường luật), Thơ Mới … đều phải theo luật Thơ  		(vần, bằng trắc) Thơ mới hay. Vần dùng gượng ép, mất hay một phần. Chữ  		đúng ra phải vần mà không vần, không hay.</p>
<p>Ngoài ra, cũng để nhắc lại, cách dùng chữ, gieo vần thật quan trọng. Có  		nhiều từ kép, cụm từ có thể dùng xuôi ngược sao cũng cùng nghĩa. TD: đớn  		đau hay đau đớn, trôi nổi hay nổi trôi, phiền muộn hay muộn phiền, nghĩa  		đều như nhau. Nhưng không thể viết xa xót thay vì xót xa, loài lạc thay  		vì lạc loài, nhiên tự thay vì tự nhiên v.v&#8230; Những chữ bị đảo ngược như  		vậy hoặc có nghĩa khác hoặc vô nghĩa. Cần nhất là tránh làm Thơ vô nghĩa  		hoặc tối nghĩa dù đọc lên đầy hán tự có vẻ bác học.</p>
<p><strong>E-Ý QUAN TRỌNG HƠN LỜI</strong></p>
<p>Ðiều chót, dù còn nhiều điều chưa nói do giới hạn của bài này. Nếu ta  		không thể thoả mãn được cả hai phương diện hiệp vận (vần) và ý thì nên  		dùng chữ nào cho rõ ý còn hơn là dùng chữ hiệp được vần mà ý sai lạc  		hoặc vô nghĩa. TD: Bốn câu của cụ Yên Ðổ.</p>
<p><em>Cũng có lúc chơi nơi dặm khách</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Có khi từng gác cheo leo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang</em></p>
<p>Tất cả đều hiệp vận ngoại trừ “leo” và “chiều”. Tuy nhiên, “chiều” mới  		đúng nghĩa. Nếu dùng “chèo” thì hiệp vận nhưng sai nghĩa.</p>
<p>Thí dụ khác: Bốn câu Thơ dịch của người viết bài này:</p>
<p><em>Xuân sang ngoạn cảnh xem hoa</em></p>
<p><em>Hè về hóng mát tà tà ao sen</em></p>
<p><em>Vào Thu rượu cúc êm êm</em></p>
<p><em>Ðông coi tuyết phủ, nối vần Nàng Thơ(TÐN)</em></p>
<p>Tất cả đều hiệp vận, ngoại trừ “êm” và “vần” , nhưng đúng ý nghĩa. Giả  		sử thay hai chữ “nối vần” bằng hai chữ “êm đềm” cho vần với câu trên thì  		trước nhất bị điệp ngữ êm, thứ hai “êm đềm Nàng Thơ” lại có nghĩa khác,  		không nói được cái thú ngâm Thơ, sáng tác Thơ của tác giả. (Ðông ngâm  		bạch tuyết thi). Bài thơ trên dịch từ bài thơ chữ Hán:</p>
<p><em>Xuân du phương thảo địa</em></p>
<p><em>Hạ thưởng lục hà trì</em></p>
<p><em>Thu ẩm hoàng hoa tửu</em></p>
<p><em>Ðông ngâm bạch tuyết thi</em></p>
<p>Ý nghĩa của một câu Thơ, một bài Thơ là quan trọng như vậy.</p>
<p>Một bài Thơ hay, một câu Thơ hay rất dễ nhìn ra y như một bông hoa đẹp.  		Ðâu cần phải phân tích cánh hoa làm sao, đài hoa, sắc hoa thế nào, ta  		mới biết là bông hoa đẹp.</p>
<p>Tiền nhân xưa sáng tác Thơ, vào hội Thơ, ngâm Thơ như một cái thú của  		đời người, nhất là khi về già. Không gì bằng có bạn Thơ, có giấy bút, có  		rượu, dù chỉ thanh đạm, cùng làm Thơ, cùng bàn luận về văn chương, về  		những hào khí của người xưa. Tổ tiên ta dùng Thơ để nói về mình, về  		người, dạy đời, mỉa mai những thói rởm của đời, tôn vinh những thú vui  		thanh quí, cao nhã “an bần lạc đạo” mà Thơ chính là một dụng cụ sắc bén  		và đắc dụng nhất cho các mục tiêu đó. Ta thử đọc lại một bài thơ của cụ  		Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:</p>
<p><strong><em>THƠ NHÀN</em></strong></p>
<p><em>Một mai, một cuốc, một cần câu</em></p>
<p><em>Thơ thẩn dù ai vui thú nào</em></p>
<p><em>Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ</em></p>
<p><em>Người khôn, người đến chốn lao xao</em></p>
<p><em>Thu ăn măng trúc, đông ăn giá</em></p>
<p><em>Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao</em></p>
<p><em>Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp</em></p>
<p><em>Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao!</em></p>
<p>Bài sau đây của thi hào Tản Ðà Nguyễn khắc Hiếu, làm cho vở chèo Thiên  		thai. Ðây là cảnh hai tiên nữ tiễn Lưu Thần, Nguyễn Triệu về trần:</p>
<p><strong><em>TỐNG BIỆT </em></strong></p>
<p><strong><em>Lá đào rơi rằc lối Thiên thai</em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi!</em></p>
<p><strong><em>Nửa năm tiên cảnh</em></strong></p>
<p><em>Một bước trần ai</em></p>
<p><em>Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!</em></p>
<p><strong><em>Ðá mòn, rêu nhạt</em></strong></p>
<p><em>Nước chảy, huê trôi,</em></p>
<p><em>Cái hạc bay lên vút tận trời</em></p>
<p><em>Trời đất từ đây xa cách mãi</em></p>
<p><em>Cửa động,</em></p>
<p><em>Ðầu non,</em></p>
<p><em>Ðường lối cũ,</em></p>
<p><em>Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!</em></p>
<p>Dù là một huyền thoại, người đọc Thơ không khỏi bùi ngùi cho cuộc chia  		tay giữa người tiên, kẻ tục sau một thời gian ngắn chung sống. Chữ dùng  		rất thanh thoát thích hợp với cảnh tiên: lá đào, Thiên thai, đá mòn, rêu  		nhạt&#8230; cái hạc, cửa động, đầu non &#8230; và kết thúc bằng ánh trăng mơ hồ  		huyền ảo muôn đời soi bóng. Một bài Thơ tuyệt đẹp. Từ đó chúng ta suy ra  		Thơ là thơ thẩn, là mơ hồ, đôi khi xa rời thực tế. Như nhà thơ Xuân Diệu  		đã viết:</p>
<p><em>Là thi sĩ nghĩa là ru với gió</em></p>
<p><em>Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây&#8230;</em></p>
<p>Thơ là kết tụ của tình yêu, tình yêu nam nữ, vợ chồng, tình yêu thiên  		nhiên, tình yêu con người. Thơ là tự do, phóng khoáng, là sắc sắc không  		không của nhà Phật, là Vô vi, Thiền quán như Lão tử thực hành và đôi khi  		cũng cần phải yếm thế, chán cái đời sống đầy tục lụy này như Cao bá  		Quát, hay châm biếm những thói rởm, tật xấu của người đời như Trần tế  		Xương&#8230; Thơ thực quá, thô sơ quá, thơ không hay, không thoát. Nhiều bài  		không thể gọi được là Thơ mà chỉ là những bài vè dân quê truyền tụng ở  		nông thôn. Thơ lục bát tuy vậy rất khó làm, dễ trở thành bài vè ít giá  		trị. Làm được Thơ lục bát như truyện Kiều là một tuyệt tác.</p>
<p>Có nhiều bạn đọc viết thư cho người viết hỏi họ có thể sáng tác Thơ, có  		thể thành nhà thơ được không? Tiện đây, xin trả lời chung như thế này:</p>
<p>Ai cũng có thể sáng tác và trở thành thi sĩ, nếu:</p>
<p>Yêu thơ, đọc nhiều thơ, học thuộc thơ kiểu mẫu, thơ hay, chất Thơ ngấm  		vào trí óc giống như chất bổ ngấm vào thân thể, chúng giúp cho nhà thơ  		rất nhiều. Tuy vậy xưa kia đã có những người thuộc lòng cả cuốn truyện  		Kiều, cả cuốn Nhị độ Mai hay Bích câu kỳ ngộ nhưng vẫn không thể sáng  		tác Thơ.</p>
<p>Có thiên khiếu về Thơ. Có sự rung cảm, xúc động sâu xa như sợi dây đàn  		hoặc cái sáo trong không gian như đã nói ở trên.</p>
<p>Có vốn liếng nhiều về từ ngữ để sử dụng khi cần diễn dịch một ý tưởng  		thành lời nói, chữ viết, nhất là thành Thơ. Thơ tiếng Việt rất cần danh  		từ Hán &#8211; Việt.</p>
<p>Nắm vững các niêm, luật (bằng, trắc, vần) và các thể Thơ. Dùng chúng như  		những cái chìa khóa dẫn đường vào việc sáng tác Thơ.</p>
<p>Tuân theo các niêm, luật đó ngoại trừ Thơ tự do. Tuy nhiên, dù là Thơ tự  		do, nó vẫn không phải văn xuôi, vẫn cần một sự sắp xếp ý, lời và vẫn cần  		vần khi có thể cho câu thơ nhịp nhàng, cân đối.</p>
<p>Ðể bạn đọc hiểu thêm, xin nói như thế này. Có những nhà văn viết văn khá  		hay, nổi tiếng nhưng chính những nhà văn đó nói họ không thể sáng tác  		Thơ mặc dù chữ nghĩa đầy đầu.</p>
<p>Ngược lại, có những thi sĩ không thể viết truyện, viết bình luận, nghĩa  		là văn xuôi.</p>
<p>Bởi như đã nói, tuy cùng là văn chương nhưng chúng hoàn toàn khác biệt  		về phương diện sáng tác. Lại cũng khác biệt về phương diện thưởng thức.  		Cũng cần nói thêm, khi đã không có trình độ thưởng thức thì bài nào cũng  		như bài nào, vàng thau lẫn lộn, bị đánh giá như nhau. Trình độ thưởng  		thức chính là những kiến thức thu thập được trong lãnh vực Thơ, nó chính  		là những bước căn bản đầu tiên đưa đến sự sáng tác Thơ nếu có hứng sáng  		tác.</p>
<p>Luận bàn về Thơ, chục pho sách cũng không đủ nói hết. Ðể kết thúc bài  		mạn đàm thiếu sót về Thơ này, xin mời quí bạn đọc một bài Thơ lục bát  		của tác giả bài này, bài “Chiều Ba Mươi”, thơ vui Tết và bài “Nói với  		Bút” cả hai đã đăng trên nhiều báo từ năm 1978 và 1992. Bài sau tác giả  		mượn cây bút để nói lên nỗi lòng của mình.</p>
<p><strong><em>CHIỀU BA MƯƠI</em></strong></p>
<p><em>Vòng tay nhật nguyệt luân hồi</em></p>
<p><em>Đem Xuân trở lại nét môi diễm kiều</em></p>
<p><em>Lược gương từ giã cô liêu</em></p>
<p><strong><em>Nâng niu mái tóc đây chiều ba mươi</em></strong></p>
<p><em>Trẻ thơ tươi tắn nụ cười</em></p>
<p><em>Ðầu xanh, đầu bạc người người vui lây</em></p>
<p><em>Gió ngoài song, lạnh hiên tây</em></p>
<p><em>Chiều Xuân thi hứng lúc đầy, lúc vơi</em></p>
<p><em>Trong bình đào thắm, mai tươi</em></p>
<p><em>Nhìn em muốn hỏi Xuân cười lúc nao?</em></p>
<p><em>Giang tay bồng nhẹ Xuân vào</em></p>
<p><em>Môi son má phấn: Mai, Ðào hay em? </em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>NÓI VỚI BÚT</em></strong></p>
<p><em>Bút ơi ! Yêu bút thiết tha</em></p>
<p><em>Bút theo ta chạy ta bà khắp nơi</em></p>
<p><em> Mùa Xuân rừng núi rong chơi</em></p>
<p><em> Miền quê, thành thị khắp nơi ra vào</em></p>
<p><em> Hạ về bút lắm xôn xao</em></p>
<p><em> Biển giông bão nổi ào ào chớm Thu</em></p>
<p><em>Mùa Ðông bút có sương mù</em></p>
<p><em>Có đôi chim gáy gật gù sớm mai</em></p>
<p><em>Ðường đời lắm nẻo chông gai</em></p>
<p><em>Bút cùng ta luận một vài điều hay</em></p>
<p><em>Cường quyền bút chẳng run tay</em></p>
<p><em>Bút mong Dân tộc những ngày sáng tươi</em></p>
<p><em>Chán đời vẫn hé môi cười</em></p>
<p><em>Ta cùng với bút một đời bên nhau</em></p>
<p><em>Vì ta bút trải tình sâu</em></p>
<p><em>Vì ta nên bút giãi dầu nắng mưa</em></p>
<p><em>Lòng ta bút hiểu hay chưa ?</em></p>
<p>Thơ là tuyệt đỉnh, tuyệt đích của văn chương. Sáng tác Thơ khó khăn hơn  		chơi Lan, chơi Bonsai, đánh cờ tướng, uống trà v.v&#8230; vì nghề Thơ cũng  		lắm công phu, không phải chỉ thích Thơ rồi nhảy vào làm Thơ mà Thơ hay  		được. Tuy nhiên, nếu đã có hồn Thơ tức dễ xúc động trước những biến đổi,  		nghịch cảnh của cuộc đời, rồi trau dồi kĩ năng về Thơ, làm nhiều bài Thơ,  		nghe ý kiến trung thực của bạn đọc và thân hữu, nhất là những người sành  		Thơ thì việc sáng tác Thơ cũng tiến bộ vậy.</p>
<p><em> Trích từ</em></p>
<p><em> http://vantuyen.net/</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/th%e1%bb%ad-tim-hi%e1%bb%83u-th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-bai-th%c6%a1-hay-xuan-vu-tr%e1%ba%a7n-%c3%b0inh-ng%e1%bb%8dc/2010/02/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử và sự nghiệp văn học : Lan Khai một đời mệnh bạc</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 19 Feb 2010 15:30:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu sử và sự nghiệp văn học : Lan Khai một đời mệnh bạc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=426</guid>
		<description><![CDATA[Lan Khai sinh năm Bính Ngọ 1906, vào buổi trưa hè ngày 24/6, trong một căn nhà lá 3 gian vách gỗ tại xã Vĩnh Lộc (nay là thị trấn Vĩnh Lộc) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi, 39 năm hưởng dương, ông đã [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Lan Khai sinh năm Bính Ngọ 1906, vào buổi trưa hè ngày 24/6, trong một căn nhà lá 3 gian vách gỗ tại xã Vĩnh Lộc (nay là thị trấn Vĩnh Lộc) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi, 39 năm hưởng dương, ông đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm 50 cuốn sách của các thể loại.</p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Giờ, theo hành trình gió sương mưu sinh của những người con, di ảnh ông lại được đưa về hưởng nhang tại một góc phố chợ nơi thị xã miền biên viễn Hà Giang. Đây là câu chuyện tôi ghi lại về ông từ trí hồi tưởng của người con trai còn lại duy nhất, gắn bó với ông nhất và có lẽ là đứa con ông yêu nhất: Ông Lan Phương.</span></p>
<p><strong><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Thanh bần mà đồ sộ</span></strong></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Những người cùng thời và hậu thế sau này yêu thích văn chương của Lan Khai đều nghĩ rằng ông là người miền núi, cho ông là nhà văn &#8220;đường rừng&#8221;. Thế nhưng thực tế nguồn gốc xuất thân của ông không hẳn như vậy. Huyết thống để tạo dựng nên con người ông lại thuộc hàng trâm anh thế phiệt, họ Nguyễn, gốc Đàng trong, thuộc phủ Thừa Thiên &#8211; Huế.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, cha ông là Nguyễn Đình Chức &#8211; người vì hưởng ứng phong trào Cần Vương đã chạy từ Huế ra Hương Sơn (Hà Tĩnh) tham gia cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng. Khi căn cứ Ngàn Trươi tan rã, tướng quân Phan Đình Phùng ra đi, ông Chức do dấn thân và đóng góp nhiều quá cho cuộc khởi nghĩa này nên đã phải chạy lên tận miền sơn cước Vĩnh Lộc, Chiêm Hóa để náu thân. Tại nơi sơn lam chướng khí này, ông đã chọn nghề dạy học, bốc thuốc để mưu sinh và để đức cho đời.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Do đức tín của nghề thuốc và nghề thầy, lại thêm tinh thần nghĩa sỹ vốn cuộn chảy nên ông Nguyễn Đình Chức nhanh chóng trở thành người có uy tín trong vùng và được một gia tộc bề thế trên đây gả cho cô con gái yêu của mình là Lê Thị Thục. Sự giao duyên giữa 2 con người thuộc loại &#8220;trai anh hùng, gái thuyền quyên&#8221; đã cho ra đời ông Nguyễn Đình Khải, nhà văn nổi tiếng Lan Khai sau này.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai là người thông tuệ. Người ta đồn rằng cha mẹ ông cho ông cắp sách đến đâu học ông cũng nhanh chóng &#8220;lấy được hết chữ&#8221;, &#8220;lấy được hết kiến thức&#8221; của người dạy mình, đó là còn chưa kể đến tài vẽ vời, làm thơ, viết văn của ông. Ấp ủ những điều chưa làm được cho đời của mình, coi chữ nghĩa và kiến thức là trên hết nên cha ông đã bạo gan đưa ông xuống Trường Bưởi để học. Đây là một việc làm táo bạo, hết lòng vì con của cha mẹ ông. Vì ngày ấy, ở nơi heo hút, nghèo khó như Tuyên Quang, một gia đình giáo viên kiêm nghề bốc thuốc như ông Chức mà dám đem tiền đưa con xuống Hà Nội học là chuyện &#8220;lạnh người&#8221;.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Học xong Trường Bưởi, năm 18 tuổi ông thi đỗ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, một trường có tiếng của chế độ bảo hộ Pháp quốc lúc bấy giờ, đây cũng là ngôi trường đào tạo ra nhiều người nổi tiếng sau này. Năm 21 tuổi, trong dặm đường đi về giữa Hà thành và xứ Tuyên ông đã gặp và kết duyên với bà Hà Thị Minh Kim, một người con gái có nhan sắc, nết na và nhân hậu có một không hai của xứ Tuyên Quang. </span></p>
<table border="0" cellspacing="2" cellpadding="0" frame="void" rules="none" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;"><img src="http://www.cand.com.vn/Uploaded_ANTGCT/hoabt1/14_ba102.jpg" border="0" alt="" /></span></td>
</tr>
<tr>
<td><span style="font-family: Times New Roman; color: #808080; font-size: small;">Bà Hà Thị Minh Kim, người vợ, người trợ bút đắc lực cho nhà văn Lan Khai.</span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Lấy vợ xong, để vợ lại xứ Tuyên với bời bời mây trắng và sự cuộn chảy dữ dội của hai dòng Lô, Gâm nơi thượng nguồn, ông lại về Hà Nội tiếp tục công việc học hành. Nhưng học dưới mái trường của chế độ bảo hộ, một phần bị bức ép, thêm phần nữa với sự khinh miệt dân An Nam của một số người lúc bấy giờ nên ông đã quyết định bỏ học, về xứ Tuyên êm đềm và thơ mộng để dạy học, dịch sách và viết văn.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Với tài năng của mình cùng với duyên bút mực, tuy ở chốn thâm u thượng ngàn nhưng chỉ 5 năm sau ông đã thành danh với các thể loại, tiếng tăm &#8220;động&#8221; cả đến giới văn chương Hà Nội lúc bấy giờ. Trên đà này, để có môi trường và những giao lưu trong sáng tác, ông đã quyết định đưa cả 8 người trong gia đình mình về Hà Nội thuê nhà viết văn kiếm sống. Các tờ báo có tên tuổi lúc bấy giờ như: Loa, Ngọ Báo, Đông Tây, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ thông Bán nguyệt san… liên tục đăng bài của ông. Sau khi lựa chọn, năm 1938 ông quyết định về với Tiểu Thuyết Thứ Bảy.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Một năm sau, năm 1939, Vũ Đình Long, &#8220;trùm xuất bản&#8221; gạo cội của ngành báo và tạp chí ở Hà Nội lúc bấy giờ đang làm chủ Nhà xuất bản Tân Dân có sáng kiến xin giấy phép ấn hành Tạp chí Tao Đàn. Đây là tạp chí đầu tiên chuyên ngành về văn học của làng báo nước ta lúc bấy giờ. Để có tờ tạp chí ghi dấu ấn trong lịch sử làng báo, ông Long đã đi tìm người tài. Và cái tâm, cái tầm của Lan Khai đã được ông chú ý. Lan Khai được ông Vũ Đình Long rủ về và đặt ngay cương vị Tổng thư ký Bộ biên tập mà ngày nay gọi là Tổng biên tập lúc ông mới bước sang tuổi 33.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Được ông Vũ Đình Long ưu ái nhưng với cách quản lý tiền của ông Long nên tuy nổi tiếng nhưng ông Lan Khai ngày ấy vẫn đói lắm. Và để kiếm đủ tiền thuê nhà, nuôi 8 miệng ăn, mỗi tháng ngoài cộng tác với báo và các tạp chí khác thì ngay ở Nhà xuất bản Tân Dân thôi ông Lan Khai cũng phải viết được một cuốn sách dày 100 trang với tư cách làm thuê cho ông Long. Mỗi trang lúc đó ông Long trả ông Lan Khai 8 hào.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Con trai ông kể rằng ngày ấy nhà văn Lan Khai viết &#8220;như thụi&#8221; nhưng gia đình cũng chẳng dư dật được tẹo nào cả. Là nhà văn nổi tiếng nhưng ông vẫn phải hút thuốc lào, uống rượu với lạc rang, thức ăn thường xuyên là rau muống và cà pháo. Trong hồi tưởng về những ngày cơ cực này của nhà văn nổi tiếng Lan Khai, nhà văn Nguyễn Vỹ có đoạn: Bữa ấy nghe tin người nhà trên Tuyên Quang ốm nặng, ông Lan Khai đã phải mò đến các nhà xuất bản vay tiền. Vay đến mức nài nỉ nhưng ai cũng cấn cá. Cuối cùng ông phải rút tập bản thảo ra mà hứa là sẽ sớm hoàn thành họ mới cho ông vay 20 đồng. Ông về nhà vứt nó xuống giường mà nước mắt tràn trề trên má. Cơ cực thật!</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Nhưng kỳ lạ thay, chính trong thời kỳ khốn khó này lại là lúc ông Lan Khai tỏa sáng và viết được nhiều nhất trên văn đàn. 17 năm cầm bút, ông đã để lại cho đời tới 50 cuốn sách thuộc các thể loại như: Tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội, nghiên cứu lý luận và phê bình văn học, dịch sách, làm thơ (thơ ông lấy bút danh là Lâm Tuyền Khách). Riêng tập &#8220;Truyện đường rừng&#8221; của ông đã hút hồn nhiều người, làm mê mẩn bao thiếu nữ Hà Nội lúc bấy giờ. </span></p>
<p><strong><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Chạnh lòng phố núi</span></strong></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Đối diện với cái ồn ào của phiên chợ trung tâm phố núi miền biên ải Hà Giang là khung cảnh êm đềm, cảm giác ẩm lạnh của ngôi nhà số 142, đường Nguyễn Thái Học, nơi thờ tự vong hồn của cố nhà văn &#8220;đường rừng&#8221; nổi tiếng Lan Khai và sự cung phụng vong linh của người con còn lại duy nhất Nguyễn Lan Phương. Ngôi nhà hẹp, hai tầng, xây cất theo kiểu đơn giản này chỉ nhộn nhịp vào mỗi buổi sáng khi có người ăn phở tìm đến. Ông Lan Phương và hậu duệ tiếp theo của nhà văn nổi tiếng Lan Khai đã chọn nghề bán phở để mưu sinh trong nhiều năm.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Phương kể: Chúng tôi ở cùng cha dưới Hà Nội phồn hoa chỉ trong vòng 9 năm ngắn ngủi. Kỷ niệm về bố với ông không phải là một nhà văn nổi tiếng mà là những đức tính mẫu mực. Ông Phương bảo, làm lụng vất vả người ta thường xuyên cáu gắt nhưng với ông Lan Khai lại không hề như vậy. Sau mỗi ngày lang thang phố xá, lao khổ với bút nghiên để kiếm cái ăn nhưng về khu trọ lúc nào ông cũng dành cho vợ và con một không gian đầy ắp tiếng cười. Không bao giờ ông to tiếng, cả cuộc đời ông chưa bao giờ chửi vợ mắng con. Có gì không đồng ý thì ông lên tiếng dạy bảo, chỉ với tư cách là người lớn tuổi, người đi trước trong gia đình mà thôi. Ra phố về lúc nào ông cũng cắp nách một món quà nhỏ cho lũ con và vợ ở nhà cùng tập bản thảo. Rỗi, ông thường dành thời gian chơi với các con và dạy các con học. </span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Sau, đến năm 1943, do lao khổ bút nghiên nặng nhọc nên ông đổ bệnh hen suyễn. Sức khỏe suy giảm, gia đình lâm cảnh khốn khó, túng bấn nên Lan Khai lại đưa cả gia đình ngược Tuyên Quang. Về trên này ông vẫn dành thời gian viết và duy trì cộng tác cũng như các mối quan hệ với bạn văn gạo cội ở Hà Nội dưới sự trợ bút đắc lực của người vợ Hà Thị Minh Kim. Thế rồi một buổi trưa ngày cuối tháng 8 năm 1945, Lan Khai từ phố về, gọi ông Phương pha cho ấm trà. Vừa uống xong hớp nước, chưa kịp ăn cơm thì có một người lạ đến, mời ông đi với một công việc khẩn kíp gì đó. Ông đi rồi không về nữa. Vậy nên vợ và các con ông đã chọn ngày cuối tháng 8 hằng năm tổ chức làm giỗ.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Nguyễn Đình Khải lấy bút danh là Lan Khai vì ông thích loài hoa này. Mỏng manh với núi đồi, sống phù phiếm nhưng để lại làn hương dễ chịu cho đời. Bút danh này cũng đã &#8220;ám&#8221; vào thân phận ông. Ngắn ngủi, ẩn dật, không xô bồ nhưng tinh khiết và đẹp đẽ đến vô ngần.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Ông Lan Khai kết duyên với bà Hà Thị Minh Kim sinh hạ được 4 con đều giai. Con ông ai cũng được ông đệm cho cái tên Lan cả, với các tên: Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Lan Phương, Nguyễn Lan Hoa, Nguyễn Lan Diệp. Người con Nguyễn Lan Hương thì hy sinh từ thời chống Pháp, không xác định được mộ chí như bố. Lan Hoa, Lan Diệp đều đã mất cả rồi. Giờ chỉ còn ông Lan Phương, người trụ lại với ngổn ngang chuyện đời, chuyện gia đình để hương khói cho nhà văn Lan Khai.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Trong các con, ông Lan Phương được ông Lan Khai quý nhất và ông cũng là người gần gũi với ông Lan Khai nhiều nhất. Thế nhưng cũng như bố, ông Lan Phương cũng lận đận lắm. Ông Lan Phương sinh năm 1928. Năm 1950, trong thế trận tiễu phỉ ông đã lên Hà Giang. Tham gia kháng chiến ở Sở Tuyên truyền Liên khu 10, vào mặt trận khốc liệt của phỉ tại huyện Hoàng Su Phì, rồi sang cán bộ thuế, lại về ngành giao thông. Cuộc đời bị bắn bẩy nhiều nơi, nhiều ngành, chịu khó, chịu khổ. Ông có 5 người con nhưng học hành đều dang dở, không ai tham gia công việc hay có chức trách gì. Ông đang ở với con thứ 4, người con này cũng đang kế tục nghiệp bán phở của bố và cùng ông Lan Phương thờ tự ông nội là nhà văn nổi tiếng Lan Khai.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Qua khu vực tầng 1 ngổn ngang bàn ghế để bán phở cho khách tôi tìm lên tầng 2, phía gian trong để thăm nơi thờ tự của nhà văn nổi tiếng Lan Khai. Chỗ thờ tự ông giản đơn như cuộc sống những tháng ngày mà ông còn sống. Một bức chân dung treo chênh vênh nơi góc tường, đối diện là chiếc tủ sách nhỏ lưu giữ một số đầu sách được in mới về các tác phẩm của ông do các nhà xuất bản gửi tặng.</span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman; font-size: small;">Lan Khai để lại cho đời 50 đầu sách. Ngoài con người và văn chương thì những bài viết thuộc thể lý luận và phê bình văn học của ông đã đăng trên Tạp chí Tao Đàn như: Tính cách Việt Nam trong văn chương (Tao đàn số 4), Thiên chức của văn sĩ Việt Nam (Tao đàn số 5), Cái nguy mất gốc (Tao đàn số 6), Một lòng tin cần phải có (Tao đàn số 7), Bàn qua về nghệ thuật (Tao đàn số 7), Phác họa hình dung tâm tính Tản Đà (Tao đàn số 9-10), Con người Vũ Trọng Phụng (Tao đàn số đặc biệt)&#8230; thì đến nay đọc vẫn còn &#8220;kinh&#8221; lắm và chưa dễ mấy ai qua được cách nhìn nhận của ông</span><img src="http://antgct.cand.com.vn/Images/reddot.gif" alt="" /></p>
<p>Đơn Thương</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/tieu-su-va-su-nghiep-van-h%e1%bb%8dc-lan-khai/2010/02/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vợ là Trời cho</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 12 Jan 2010 01:18:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[thơ ngâm dấm]]></category>
		<category><![CDATA[Vợ là Trời cho]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=422</guid>
		<description><![CDATA[Vợ là quả ớt chín cây
Đỏ tươi ngoài vỏ mà cay trong lòng
Vợ là một đóa hoa hồng
Vợ là sư tử Hà Đông trong nhà
Vợ là nắng gắt mưa sa
Vợ là giông tố phong ba bão bùng
Nhiều người nhờ vợ nên ông
Nhiều anh vì vợ mất không cơ đồ
Vợ là cả những nguồn thơ
Vợ là [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Vợ là quả ớt chín cây<br />
Đỏ tươi ngoài vỏ mà cay trong lòng</strong><br />
Vợ là một đóa hoa hồng<br />
Vợ là sư tử Hà Đông trong nhà<br />
Vợ là nắng gắt mưa sa<br />
Vợ là giông tố phong ba bão bùng<br />
Nhiều người nhờ vợ nên ông<br />
Nhiều anh vì vợ mất không cơ đồ<br />
Vợ là cả những nguồn thơ<br />
Vợ là cả những giác mơ vơi đầy<br />
Vợ là một chút men say<br />
Là nước hoa ngoại làm ngây ngất lòng<br />
Vợ là một áng mây hồng<br />
Vợ là hoa hậu để chồng đắm say<br />
Vợ là khối óc bàn tay<br />
Vợ là bác sỹ tháng ngày chăm ta<br />
Vợ là nụ, vợ là hoa<br />
Vợ là chồi biếc, vợ là mùa xuân<br />
Vợ là tín dụng nhân dân<br />
Vợ là kế toán giải ngân trong nhà<br />
Vợ là biển rộng bao la<br />
Vợ là hương lúa đậm đã tình quê<br />
Vợ là gió mát trưa hè<br />
Vợ là hơi ấm thổi về đêm đông<br />
Vợ là chỗ dựa của chồng<br />
Nhiều anh dám bảo vợ không là gì?<br />
Khoan khoan hãy nghĩ lại đi<br />
Vợ quan trọng lắm, không gì hơn đâu<br />
Việc nhà vợ có công đâu<br />
Nấu cơm, nấu nước, rửa rau, pha trà<br />
Vợ là máy giặt trong nhà<br />
Vợ là cát-sét, vợ là ti-vi<br />
Nhiều đêm vợ hát chồng nghe<br />
Lời ru xưa lại vọng về trong ta<br />
Vợ là làn điệu dân ca<br />
Vợ là bà chủ, vợ là nhân viên<br />
Vợ là cái máy đếm tiền<br />
Vợ là nội lực làm nên cơ đồ<br />
Vợ là thủ quỹ, thủ kho<br />
Vợ là hạnh phúc ấm no trong nhà<br />
Vợ là vũ trụ bao la<br />
Nhiều điều bí ẩn mà ta chưa tường<br />
Khi nào giận, lúc nào thương<br />
Sớm mưa, chiều nắng ai lường được đâu<br />
Vợ là một khúc sông sâu<br />
Vợ như là cả một bầu trời xanh<br />
Vợ là khúc nhạc tâm tình<br />
Vợ là cây trúc bên đình làm duyên<br />
Vợ là cô Tấm thảo hiền<br />
Vợ là cô Cám hám tiền ham chơi<br />
Đàn ông nhất vợ, nhì trời<br />
Ai ơi ghi nhớ kẻo rồi khổ thân<br />
Nghìn năm con tạo xoay vần<br />
Đàn ông sợ vợ muôn phần khôn ngoan<br />
Đàn ông nịnh vợ là sang<br />
Đàn ông chê vợ tan hoang cửa nhà<br />
Mấy lời nhắn nhủ gần xa<br />
Làm chồng phải biết vợ là trời cho.</p>
<p>(theo khakha)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/vo-la-troi-cho/2010/01/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cái hay của thơ dở &#8211; Đồ Bì</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/cai-hay-c%e1%bb%a7a-tho-do-do-bi/2009/11/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/cai-hay-c%e1%bb%a7a-tho-do-do-bi/2009/11/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 04 Nov 2009 17:58:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Cái hay của thơ dở]]></category>
		<category><![CDATA[Đồ Bì]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=419</guid>
		<description><![CDATA[
Em đứng lặng nhìn chiếc lá rơi
Lá rơi lác đác bốn phương trời
Có phải lá rơi vì trận gió
Hay lá già rồi lá phải rơỉ

Trước nay, những phê bình gia thứ thiệt thường chỉ bình về thơ hay hoặc đôi khi, đưa ra những cái dở trong thơ hay. TôI làm chuyện lội ngược dòng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">
<p align="left"><span style="color: #8b008b; font-size: medium;"><strong>Em đứng lặng nhìn chiếc lá rơi<br />
Lá rơi lác đác bốn phương trời<br />
Có phải lá rơi vì trận gió<br />
Hay lá già rồi lá phải rơỉ</strong></span></p>
<p align="center"><img src="http://vuibonmua.net/js/emotion/biggrin.gif" alt="" /></p>
<p>Trước nay, những phê bình gia thứ thiệt thường chỉ bình về thơ hay hoặc đôi khi, đưa ra những cái dở trong thơ hay. TôI làm chuyện lội ngược dòng nước, xin bàn qua về những cái hay trong thơ dở, thứ thơ mà các vị làm công tác tòa soạn thường vứt vào sọt rác hoặc lịch sự hơn, ghi thêm một dòng chữ: &#8220;Gởi lại tác giả&#8221;. Nói tóm lại, tôi xin bàn về những bài thơ chưa hề có trên mặt báo.</p>
<p>Theo sự nghiên cứu rất nghiêm túc của… tôi thì hai nhà thơ dở nhất khu vực châu Á là hai chàng Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, thuộc đời Tây Minh. Chuyện này đã được nhà văn Đồ Chiểu nói qua trong Lục Vân Tiên. Thời ấy, đi thi thường phải làm 4 món thi, ca, từ, phú mà Trịnh &#8211; Bùi cứ rớt hoài thì thơ của hai &#8220;nhà thơ&#8221; này dứt khoát phải là thơ dở. Nhưng có một số anh em thân hữu cho rằng có những bài thơ còn dở hơn cả thơ ca của Trịnh – Bùị Các bạn đọc cho tôi nghe một số những bài thơ như vậỵ Đó là những bài thơ xuất hiện trên dưới 40 năm nay, đọc lên nghe cũng sướng sướng. Thôi thì tôi xin bàn về những cái hay của những bài thơ dở đó.</p>
<p>Có một bài gọi là Vịnh Cây Dừa:</p>
<p>Cha mẹ sinh ra gốc biển đông<br />
Bị lụt trôi vào cửa Tam Quan<br />
Ở đời ai đứng cao hơn mỗ<br />
Nếu cao hơn mỗ ấy là tre.</p>
<p>Bài thơ hay ở chỗ toàn bộ kiến thức đều trật lất. Dừa sao lại sinh ra ở biển đông? Bị lụt trôi ra chứ làm sao lại trôi vào? Câu thứ ba thật huênh hoang, khoác lác bởi cây dầu, cây sao, cây…dái ngựa còn cao hơn cả dừa nữa. Dù huênh hoang khoác lác như vậy nhưng câu kết cũng biết thừa nhận rằng tre cao hơn dừa. Còn vần điệu của bài thơ thì trớt he, ngộ nghĩnh hết chỗ nói. Đọc bài thơ, người ta chỉ có thể phì cười, thú vị&#8230;</p>
<p>Có một bài gọi là Anh và Em:</p>
<p>Em giai nhân ngồi bên cửa sổ<br />
Anh si tình đứng ở ngòai sân<br />
Bỗng nghe chó sủa rần rần<br />
Sảng hồn anh chạy, rách quần mới may</p>
<p>Thi pháp hòa thanh thơ song thất lục bát nghiêm chỉnh hết chỗ chê. Có người cho cái dở của bài thơ là từ phạm trù hình nhi thượng tình yêu lại chuyển tông sang phạm trù hình nhi hạ rách quần, nghe có vẻ phàm tục quá đáng. Vâng, cái hay của bài thơ là ở chỗ phàm tục: từ du dương anh em đến chó sủa, từ xuất thần mơ mộng của si tình đến sảng hồn chạy toé khói. Mấy ai đã có được tứ thơ biến ảo lâm ly như vậỵ Mà biết đâu, với một nhà thơ nghèo như tác giả, chuyện rách quần còn quan trọng hơn cả chuyện tán tỉnh người yêu.</p>
<p>Có một bài gọi là Lá rơi:</p>
<p>Em đứng lặng nhìn chiếc lá rơi<br />
Lá rơi lác đác bốn phương trời<br />
Có phải lá rơi vì trận gió<br />
Hay lá già rồi lá phải rơỉ</p>
<p>Cả cái hay và cái dở của bài thơ là 2 chữ lá rơi được lập đi lập lại 4 lần khiến nội dung bài thơ vừa nghèo nàn lạc hậu, vừa có vẻ áp dụng tu từ pháp điệp ngữ. Nhưng cái ngộ nhất của bài thơ là tính triết lý: lá rơi vì gió thổi hay tự thân nó già rồi, phải rơị Có thể là vì cả hai lý do đó. Bài thơ dừng lại ở chỗ lơ lửng. Ai nói bài thơ này dở, tôi nguyện chống đến cùng để bảo vệ tiết hạnh của nó.</p>
<p>Có một bài gọi là Em và Rùa:</p>
<p>Nhìn em mặc jupe nhảy Lăm-thôn<br />
Nhảy mãI, lòng tôI cũng đỡ buồn<br />
Lò ấy quả nhiên là lò lửa<br />
Còn rùa chánh hiệu huyện Ô Môn</p>
<p>Bài thơ nguyên là tác phẩm hợp soạn của hai &#8220;nhà nho&#8221; đi công tác ở Cần Thơ, ngồi ăn cơm chiều trong một quán nhỏ ven sông Hậụ Phía bên kia có một bàn tiệc: một cô gái mặc jupe say sưa nhảy Lăm-thôn. Anh bồi bàn mang ra cho các &#8220;nhà nho&#8221; món rùa hấp muốị Hai câu trên là của &#8220;nhà nho&#8221; Đoàn Xuân HaiI; hai câu dưới là của… tôị Ý trên không ăn nhập gì vào ý dưới; một người tả chuyện bên kia; một người nói chuyện bên nàỵ Ddược cái bài thơ mang tính hiện thực cao vòi vọi như trụ viba của bưu điện cần Thơ, ngoại trừ chuyện rùa Ô Môn có vẻ võ đoán.</p>
<p>Có bài gọi là Kế hoạch hóa:</p>
<p>Trai khôn lấy gáI đặt vòng<br />
Gái khôn lấy chồng thắt ống dẫn tinh<br />
Quyết tâm kế hoạch hóa gia đình<br />
Bớt sinh bớt đẻ hai đứa mình mới… vui chơi!</p>
<p>Hai câu trên có vẻ hơi tàn bạo nhưng rất chắc ăn, ai cũng có thể hiểu được. Hai câu dưới là một sự chuyển thể những khẩu hiệu của chương trình kế hoạch hóa gia đình. Cái vỏ của bài thơ là ca dao, mang tính cổ điển nhưng cái ruột của bài thơ cực kỳ hiện đạị</p>
<p>Cho hay, trong cái gọi là thơ hay trên đời cũng hàm chứa những điều rất dở; trong cái gọi là thơ dở trên đời cũng hàm chứa những điều rất haỵ It&#8217; ra, thơ gọi là dở cũng đem lại cho cuộc đời nụ cười thư giãn. Mà chức năng giải trí của văn chương đâu phải là nhỏ. Ddồ Bì tôi có tham vọng sưu tầm, bình chú thành một tác phẩm bao gồm những bài thơ được xem là dở trên đời, để lại cho… đời sau, gọi là góp thêm một cái nhìn về văn chương cuối thiên niên kỷ. Chuyện đó có làm được hay không cũng chưa biết!</p>
<p>Đồ Bì</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/cai-hay-c%e1%bb%a7a-tho-do-do-bi/2009/11/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nếu thiếu đàn ông !!!</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/neu-thieu-dan-ong/2009/10/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/neu-thieu-dan-ong/2009/10/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 30 Oct 2009 18:07:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[PHẦN SUƯ TẦM VÀ THAM KHẢO CÁC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG]]></category>
		<category><![CDATA[Nếu thiếu đàn ông !!!]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=416</guid>
		<description><![CDATA[
By: thoitrang

Nếu thế giới nầy thiếu các ông,
Khác chi vườn cảnh thiếu lao công.
Một màu ảm đạm thê lương sẽ,
Biến khắp mọi nơi cảnh vắng không.
Nếu thế giới nầy thiếu các ông,
Đêm nằm bà phải quấn chăn bông.
Chăn bông dù ấm không bằng được
Nằm sát kế bên nách của chồng.
Nếu thế giới nầy thiếu các [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h2></h2>
<div><span>By: <a title="View all articles by thoitrang" href="http://vmode.vn/author/thoitrang/">thoitrang</a></span></div>
<div>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Khác chi vườn cảnh thiếu lao công.<br />
Một màu ảm đạm thê lương sẽ,<br />
Biến khắp mọi nơi cảnh vắng không.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Đêm nằm bà phải quấn chăn bông.<br />
Chăn bông dù ấm không bằng được<br />
Nằm sát kế bên nách của chồng.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Ra công trang điểm để ai trông?<br />
Đầu bù tóc rối ai chê trách?<br />
Có điểm trang thì cũng uổng công</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Đi làm về trễ chẳng ai mong.<br />
Chẳng ai tựa cửa mà trông ngóng,<br />
Thui thủi nghe sao lạnh cõi lòng.<br />
Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Làm sao tậu được một ông chồng?<br />
Ông chồng không có nhà hoang vắng,<br />
“Cái đó” thôi đành phải bỏ không.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Một mình gối chiếc với phòng không.<br />
Nửa đêm thức giấc nghe buồn bã,<br />
Ao ước đêm xuân được cạnh chồng.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Canh khuya ai cỡi chiếc quần hồng.<br />
Tấm thân mềm mại ai sờ mó,<br />
Quấn quít đem nhau đến cõi Bồng.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Lấy ai phục vụ chẳng đòi công?<br />
Lấy ai sai bảo như đầy tớ?<br />
Chẳng có ai hơn được quý ông.</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Nơi đâu bà trút hết cơn khùng?<br />
Nơi đâu hứng hết cơn hờn giận?<br />
Chịu đựng bao lời nói tứ tung?</p>
<p>Nếu thế giới nầy thiếu các ông,<br />
Quý bà mắn đẻ cũng như không.<br />
Loài người tuyệt chủng đâu còn nữa,<br />
Nói phét cho vui có phải không?</p>
<p><strong>Vmode </strong>- theo khakha</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/neu-thieu-dan-ong/2009/10/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một chuyện tình của thi hào Nguyễn Du</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/m%e1%bb%99t-chuy%e1%bb%87n-tinh-c%e1%bb%a7a-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/m%e1%bb%99t-chuy%e1%bb%87n-tinh-c%e1%bb%a7a-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Sep 2009 16:54:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đại thi hào NGUYỄN DU]]></category>
		<category><![CDATA[Một chuyện tình của thi hào Nguyễn Du]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=415</guid>
		<description><![CDATA[Thi hào dân tộc Nguyễn Du ra đời năm 1765 tại phường Bích Câu thành Thăng Long, vùng đất mãi mãi còn in đậm thiên diễm tình Tú Uyên &#8211; Giáng Kiều nơi mà ngôi sao Văn Giang Đoàn Thị Điểm từng làm say lòng biết bao chàng trai văn nhân, phong lưu mã thượng.
Từ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: Arial;">Thi hào dân tộc Nguyễn Du ra đời năm 1765 tại phường Bích Câu thành Thăng Long, vùng đất mãi mãi còn in đậm thiên diễm tình Tú Uyên &#8211; Giáng Kiều nơi mà ngôi sao Văn Giang Đoàn Thị Điểm từng làm say lòng biết bao chàng trai văn nhân, phong lưu mã thượng.</p>
<p>Từ vùng đất muôn tía nghìn hồng đó, Nguyễn Du từng có dịp qua lại quê mẹ: làng Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn (nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh), vùng quê quan họ đẹp người hát hay, lừng lẫy tiếng tăm &#8220;nước non băm sáu giọng tình đơn ca&#8221;&#8230; mà Nhị Hà dạt dào sóng nước kia là con sông dẫn lối đưa đường, tình sâu như nước. Đó là con sông từng một thời long lanh soi bóng bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du, viên ngọc bích lộng lẫy từ vùng đất mộng mơ về làm người nâng khăn sửa túi bậc đại quan chốn kinh thành. Vậy nên những mơ màng, say đắm ban đầu sớm chớm nở ở chàng trai đa cảm mới lớn (con thứ 7 của đại quan đầu triều Xuân quận công Nguyễn Nghiễm) chỉ còn chờ dịp là sáng lên, vượt ra ngoài chốn thâm nghiêm kim môn ngọc bội.</p>
<p>Dịp may mắn đó đã tới: Thuở xuân xanh, phải theo học một lão nho ở bờ kia Nhị Hà, Nguyễn Du thường vượt sông trên chiếc đò của cô Đỗ Thị Nhợt, gọi là Nhật có lẽ là hợp hơn vì nàng khác nào những tia mặt trời loé lên trên cảnh sống tối tăm nghèo nàn nơi bờ sông bến nước. Đôi mắt sáng, mái tóc đen dài thướt tha trước gió, giọng nói mặn mà cùng dáng điệu khua chèo thật duyên dáng của nàng khiến chàng thư sinh ngây ngất mà chưa dám ngỏ lời. Cho tới một buổi trưa kia, nàng chèo thuyền ra muộn, chàng thừa lúc vắng khách mớm lời:</p>
<p><em>&#8220;Ai ơi chèo chống tôi sang<br />
Kẻo trời trưa thật lỡ làng tôi ra<br />
Còn nhiều qua lại, lại qua<br />
Giúp cho nhau nữa để mà&#8230;&#8221; </em></p>
<p>Chàng cố ý không đọc hết câu. Nàng thắc mắc giục giã. Chàng tần ngần: &#8220;Phải do cô nương nói chứ, tôi đâu dám thêm vào&#8221;. Nàng vừa khua chèo, vừa ngâm khẽ, vẻ ngượng ngùng:</p>
<p><em>&#8220;Giúp cho nhau nữa để mà quen nhau&#8221; </em></p>
<p>Từ đó hai người càng thân thiết. Từ mỗi buổi bến đò quạnh vắng, nàng nhìn chàng âu yếm thủ thỉ &#8220;Bây giờ có thể thay chữ &#8220;quen&#8221; thành chữ &#8220;thương&#8221; được đấy cậu chiêu nhỉ?&#8221;. Chàng ngây ngất sung sướng ngâm:</p>
<p><em>&#8220;Xưa quen nay đã nên thương<br />
Cùng nhau xe mối tơ vương chữ tình<br />
Người xinh xinh, cảnh xinh xinh<br />
Trên trời dưới nước giữa mình với ta&#8221;. </em></p>
<p>Ngọn lửa tình đã cháy lên, tưởng không gì dập tắt nổi. Đáng tiếc thay, thời phong kiến đòi môn đăng hộ đối thì con quan tể tướng làm sao có thể lấy cô lái đò làm vợ chính. Việc đó đến tai gia đình, Nguyễn Du bị khiển trách, đò ngang thay người lái. Con sông Hồng đỏ nặng phù sa thành con sông than thở mang nặng hận tình, mãi mãi còn truyền đi chan chứa những vần thơ đau đớn của Nguyễn Du:</p>
<p><em>&#8220;Yêu nhau những muốn gần nhau<br />
Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười<br />
Vì đâu cách trở đôi nơi<br />
Bến nay còn đó, nào người năm xưa&#8221;. </em></p>
<p>Không thể kéo dài tình cảnh này mãi, anh ruột Nguyễn Du là Nguyễn Khản, quan đại thần nhà Lê Trịnh hướng em sang một phương ổn định: đưa Nguyễn Du về làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam làm con rể Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục. Hải An (nay là thôn Hải Yến, trong xã Quỳnh Nguyên, thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/m%e1%bb%99t-chuy%e1%bb%87n-tinh-c%e1%bb%a7a-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tiểu sử và sự nghiệp Văn học của đại thi hào Nguyễn Du</title>
		<link>http://www.tanhieptho.com/ti%e1%bb%83u-s%e1%bb%ad-va-s%e1%bb%b1-nghi%e1%bb%87p-van-h%e1%bb%8dc-c%e1%bb%a7a-d%e1%ba%a1i-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/</link>
		<comments>http://www.tanhieptho.com/ti%e1%bb%83u-s%e1%bb%ad-va-s%e1%bb%b1-nghi%e1%bb%87p-van-h%e1%bb%8dc-c%e1%bb%a7a-d%e1%ba%a1i-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Sep 2009 16:45:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyenquangbinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đại thi hào NGUYỄN DU]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu sử và sự nghiệp Văn học của đại thi hào Nguyễn Du]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.tanhieptho.com/?p=411</guid>
		<description><![CDATA[Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long. Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (thuộc Hà Tây và nay thuộc Hà Nội) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nguyễn Du</strong> sinh năm <a title="Ất Dậu" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%E1%BA%A4t_D%E1%BA%ADu">Ất Dậu</a> (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại <a title="Thăng Long" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C4%83ng_Long">Thăng Long</a>. Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn <a title="Sơn Nam" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_Nam">Sơn Nam</a> (thuộc <a title="Hà Tây" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_T%C3%A2y">Hà Tây</a> và nay thuộc <a title="Hà Nội" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>) sau di cư vào xã <a title="Nghi Xuân" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nghi_Xu%C3%A2n">Nghi Xuân</a>, huyện <a title="Tiên Điền" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%C3%AAn_%C4%90i%E1%BB%81n">Tiên Điền</a> (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh <a title="Hà Tĩnh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_T%C4%A9nh">Hà Tĩnh</a>).</p>
<p>Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.</p>
<p>Đến thân phụ ông là <a title="Nguyễn Nghiễm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Nghi%E1%BB%85m">Nguyễn Nghiễm</a> (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới <a title="Nhà Hậu Lê" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_H%E1%BA%ADu_L%C3%AA">triều Lê</a>&#8230; Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu sử học. Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con trai<sup id="cite_ref-0"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-0">[1]</a></sup>. Người con trưởng là <a title="Nguyễn Khản (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Kh%E1%BA%A3n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Nguyễn Khản</a> (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa <a title="Trịnh Sâm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_S%C3%A2m">Trịnh Sâm</a>), người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ <a title="Sơn Tây" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y">Sơn Tây</a>. Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là <em>Chiêu Bảy</em>.</p>
<p>Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, <sup id="cite_ref-1"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-1">[2]</a></sup>, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ <a title="Kinh Bắc" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_B%E1%BA%AFc">Kinh Bắc</a>, nay thuộc tỉnh <a title="Bắc Ninh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ninh">Bắc Ninh</a>. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái.<sup id="cite_ref-2"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-2">[3]</a></sup>.</p>
<p>Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi)).</p>
<p>Năm <a title="1780" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1780">1780</a>, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên <a title="Sơn Tây" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%A1n_T%C3%A2y">Sơn Tây</a> sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở <a title="Hà Tĩnh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_T%C4%A9nh">Hà Tĩnh</a>. Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã.</p>
<p>Năm <a title="1783 (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1783&amp;action=edit&amp;redlink=1">1783</a>, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở <a title="Thái Nguyên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_Nguy%C3%AAn">Thái Nguyên</a>, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm<sup id="cite_ref-3"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-3">[4]</a></sup> một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.</p>
<p>Năm <a title="1786 (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1786&amp;action=edit&amp;redlink=1">1786</a>, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra <a title="Bắc Hà" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_H%C3%A0">Bắc Hà</a>.</p>
<p>Năm <a title="1789" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1789">1789</a>, <a title="Nguyễn Huệ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Hu%E1%BB%87">Nguyễn Huệ</a>, một trong ba thủ lĩnh của <a title="Nhà Tây Sơn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%C3%A2y_S%C6%A1n">nhà Tây Sơn</a> đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân <a title="Nhà Thanh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Thanh">Thanh</a> sang tiến chiếm <a title="Đại Việt" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t">Đại Việt</a>. Nguyễn Du cũng chạy theo vua <a title="Lê Chiêu Thống" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Chi%C3%AAu_Th%E1%BB%91ng">Lê Chiêu Thống</a> (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ<sup id="cite_ref-4"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-4">[5]</a></sup>, quê ở Quỳnh Côi ở <a title="Thái Bình" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_B%C3%ACnh">Thái Bình</a>, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ <a title="Đoàn Nguyễn Tuấn (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90o%C3%A0n_Nguy%E1%BB%85n_Tu%E1%BA%A5n&amp;action=edit&amp;redlink=1">Đoàn Nguyễn Tuấn</a> (1750-?).</p>
<p>Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. Năm <a title="1796 (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=1796&amp;action=edit&amp;redlink=1">1796</a>, nghe tin ở <a title="Gia Định" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_%C4%90%E1%BB%8Bnh">Gia Định</a>, chúa <a title="Nguyễn Ánh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_%C3%81nh">Nguyễn Ánh</a> (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng. Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm <a title="1802" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1802">1802</a>, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu <a title="Gia Long" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Long">Gia Long</a>, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn.</p>
<p>Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, <a title="Hưng Yên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C6%B0ng_Y%C3%AAn">Hưng Yên</a>). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (<a title="Hà Tây" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_T%C3%A2y">Hà Tây</a>, nay thuộc <a title="Hà Nội" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i">Hà Nội</a>).</p>
<p>Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm <a title="1803" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1803">1803</a>: đến cửa <a title="Nam Quan" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Quan">Nam Quan</a> tiếp sứ thần <a title="Nhà Thanh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Thanh">nhà Thanh</a>, <a title="Trung Quốc" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>.</p>
<p>Năm <a title="1805" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1805">1805</a>: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.</p>
<p>Năm <a title="1807" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1807">1807</a>: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.</p>
<p>Năm <a title="1809" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1809">1809</a>: làm Cai bạ dinh <a title="Quảng Bình" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_B%C3%ACnh">Quảng Bình</a>.</p>
<p>Năm <a title="1813" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1813">1813</a>: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.</p>
<p>Sau khi đi sứ về vào năm <a title="1814" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1814">1814</a>, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.</p>
<p>Năm <a title="1820" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1820">1820</a>, Gia Long mất, <a title="Minh Mạng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BA%A1ng">Minh Mạng</a> (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô <a title="Huế" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF">Huế</a> vào ngày 10 tháng 8 năm <a title="Canh Thìn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Canh_Th%C3%ACn">Canh Thìn</a> tức 18 tháng 9 năm 1820<sup id="cite_ref-5"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-5">[6]</a></sup></p>
<p>Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện <a title="Quảng Điền" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90i%E1%BB%81n">Quảng Điền</a>, tỉnh <a title="Thừa Thiên (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%ABa_Thi%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1">Thừa Thiên</a>. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh)<sup id="cite_ref-6"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-6">[7]</a></sup>.</p>
<h3><span>Khái quát</span></h3>
<p>Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh (xem: <a title="Văn tế thập loại chúng sinh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_t%E1%BA%BF_th%E1%BA%ADp_lo%E1%BA%A1i_ch%C3%BAng_sinh">Văn tế thập loại chúng sinh</a>, <a title="Sở kiến hành" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%9F_ki%E1%BA%BFn_h%C3%A0nh">Sở kiến hành</a>, <a title="Thái Bình mại ca giả" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_B%C3%ACnh_m%E1%BA%A1i_ca_gi%E1%BA%A3">Thái Bình mại ca giả</a> v.v.). Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “ tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối <a title="Thế kỷ 18" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_18">thế kỷ 18</a> đầu <a title="Thế kỷ 19" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%B7_19">thế kỷ 19</a>”. Riêng với <a title="Truyện Kiều" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_Ki%E1%BB%81u">Truyện Kiều</a>, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.”</p>
<p>Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật , thất ngôn luật, ca, hành&#8230;nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng <a title="Chữ Nôm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_N%C3%B4m">chữ Nôm</a> của ông, mà bằng chứng là ở Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát “có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.”<sup id="cite_ref-7"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Du#cite_note-7">[8]</a></sup></p>
<p><a id="T.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m_b.E1.BA.B1ng_ch.E1.BB.AF_H.C3.A1n" name="T.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m_b.E1.BA.B1ng_ch.E1.BB.AF_H.C3.A1n"></a></p>
<h3><span>[<a title="Sửa đổi phần “Tác phẩm bằng chữ Hán”" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Du&amp;action=edit&amp;section=4">sửa</a>]</span> <span>Tác phẩm bằng chữ Hán</span></h3>
<p>Tính đến tháng 5 năm 2008, giới chuyên môn đã sưu tập được 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, được chia ra như sau:</p>
<ul>
<li><strong><a title="Thanh Hiên thi tập" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Hi%C3%AAn_thi_t%E1%BA%ADp">Thanh Hiên thi tập</a></strong> (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.</li>
<li><strong><a title="Nam trung tạp ngâm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_trung_t%E1%BA%A1p_ng%C3%A2m">Nam trung tạp ngâm</a></strong> (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.</li>
<li><strong><a title="Bắc hành tạp lục" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_h%C3%A0nh_t%E1%BA%A1p_l%E1%BB%A5c">Bắc hành tạp lục</a></strong> (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.</li>
</ul>
<p>Nhận xét về mảng thơ này, <em>Ngữ văn 10 tập 2</em> viết:</p>
<p>&#8220;Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, nhân cách của ông. Các bài thơ trong <em>Thanh Hiên thi tập</em> và <em>Nam trung tạp ngâm</em> tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả. Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn. Có ba nhóm đáng chú ý: Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện. Hai là phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người. Ba là cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi&#8230;&#8221;(tr. 94)</p>
<p><a id="T.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m_b.E1.BA.B1ng_ch.E1.BB.AF_N.C3.B4m" name="T.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m_b.E1.BA.B1ng_ch.E1.BB.AF_N.C3.B4m"></a></p>
<h3><span>[<a title="Sửa đổi phần “Tác phẩm bằng chữ Nôm”" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_Du&amp;action=edit&amp;section=5">sửa</a>]</span> <span>Tác phẩm bằng chữ Nôm</span></h3>
<p>Sáng tác của Nguyễn Du gồm có:</p>
<ul>
<li><strong>Đoạn trường tân thanh</strong> (Tiếng kêu mới về nỗi đan đứt ruột. Tên phổ biến là <a title="Truyện Kiều" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_Ki%E1%BB%81u">Truyện Kiều</a>), được viết bằng <a title="Chữ Nôm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_N%C3%B4m">chữ Nôm</a>, gồm 3.254 câu thơ theo thể <a title="Lục bát" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_b%C3%A1t">lục bát</a>. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm <a title="Kim Vân Kiều" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_V%C3%A2n_Ki%E1%BB%81u">Kim Vân Kiều truyện</a> của <a title="Thanh Tâm Tài Nhân" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_T%C3%A2m_T%C3%A0i_Nh%C3%A2n">Thanh Tâm Tài Nhân</a>, <a title="Trung Quốc" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Qu%E1%BB%91c">Trung Quốc</a>. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của <a title="Thuý Kiều" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%C3%BD_Ki%E1%BB%81u">Thuý Kiều</a>, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc.</li>
</ul>
<p>Về thời điểm sáng tác, <em>Từ điển văn học</em> ghi: Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn (tr. 1844)</p>
<p><em>Ngữ văn 10 tập 2</em> đánh giá: &#8220;Trên nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam.&#8221; (tr.94)</p>
<ul>
<li><strong>Văn chiêu hồn</strong> (tức <a title="Văn tế thập loại chúng sinh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_t%E1%BA%BF_th%E1%BA%ADp_lo%E1%BA%A1i_ch%C3%BAng_sinh">Văn tế thập loại chúng sinh</a>, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông <a title="Trần Thanh Mại (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%A7n_Thanh_M%E1%BA%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1">Trần Thanh Mại</a> trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài <a title="Văn tế" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_t%E1%BA%BF">văn tế</a> này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông <a title="Hoàng Xuân Hãn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Xu%C3%A2n_H%C3%A3n">Hoàng Xuân Hãn</a> cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết <em>Văn chiêu hồn</em> trước cả <a title="Truyện Kiều" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_Ki%E1%BB%81u">Truyện Kiều</a>, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo thể <a title="Song thất lục bát" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Song_th%E1%BA%A5t_l%E1%BB%A5c_b%C3%A1t">song thất lục bát</a>, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.</li>
</ul>
<p><em>Ngữ văn 10 tập 2</em> nhận xét: &#8220;Nguyễn Du viết bài thơ chiêu hồn cho nhiều hạng người khác nhau, kể cả những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc. Song tấm lòng nhân ái của nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ bé, dưới đáy xã hội&#8230;Do giá trị nhân đạo sâu sắc mà Văn Chiêu hồn đã được phổ biến rộng rãi, kể cả trong phạm vi nhà chùa.&#8221; (tr. 95)</p>
<ul>
<li><strong>Thác lời trai phường nón</strong>, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.</li>
</ul>
<ul>
<li><strong>Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ</strong>, 98 câu, viết theo lối <a title="Văn tế" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_t%E1%BA%BF">văn tế</a>, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.</li>
</ul>
<p>Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Nghệ An, sau bị quân Tây Sơn bắt giữ rồi thả.</p>
<p>Theo <em>Từ điển văn học</em> (bộ mới) thì: &#8220;Bài <em>Thác lời trai phường nón</em> rất tình tứ, mang âm hưởng của <a title="Ca dao" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_dao">ca dao</a>, của <a title="Vè" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%A8">vè</a> còn đậm nét. Bài <em>Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ</em>, tác giả cũng học tập ở ca dao, <a title="Tục ngữ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A5c_ng%E1%BB%AF">tục ngữ</a>, <a title="Thành ngữ (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%A0nh_ng%E1%BB%AF&amp;action=edit&amp;redlink=1">thành ngữ</a> nhưng chưa được nhuần nhuyễn; nhiều chỗ tác giả tỏ ra quá lệ thuộc, làm giảm tính sáng tạo của mình.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.tanhieptho.com/ti%e1%bb%83u-s%e1%bb%ad-va-s%e1%bb%b1-nghi%e1%bb%87p-van-h%e1%bb%8dc-c%e1%bb%a7a-d%e1%ba%a1i-thi-hao-nguy%e1%bb%85n-du/2009/09/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
